LÀM SAO NGHE ĐƯỢC BẰNG TAI
LÀM SAO ĐỂ NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH???
PHẦN 1: CHẨN ĐOÁN BỆNH
Một trong những trở ngại lớn nhất của chúng ta khi học một ngoại ngữ ấy
là chúng ta quá… thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm.
Quá
thông minh: Vì mình không thể nào chấp nhận nghe một câu mà mình không
hiểu: cần phải hiểu một câu nói gì trước khi nghe tiếp câu thứ hai, nếu
không thì mình không buồn nghe tiếp.
Quá kinh nghiệm: Cuộc đời
đã dạy ta không nghe những gì người khác nói mà chỉ hiểu những gì mà nội
dung chuyển tải. Nếu không hiểu nội dung, chúng ta không thể lặp lại
lời người kia. Cũng vì thế mà - trong giai đoạn đầu học ngoại ngữ - mỗi
lần nghe một câu tiếng Anh thì trong đầu phải dịch ra được tiếng Việt
thì mới yên tâm, bằng không thì … câu ấy không có nghĩa.
Thế
nhưng, đấy là lối học sinh ngữ ngược chiều. Tôi biết được 6 ngôn ngữ,
trong đó có ba ngôn ngữ thành thạo nghe nói đọc viết: Việt - Anh - Pháp,
và tôi thấy rằng trong các ngôn ngữ tôi biết thì, một cách khách quan,
nghe và nói tiếng Việt là khó nhất (vì ở phương tây, không có ngôn ngữ
nào mà mình đổi cao độ của một từ thì ý nghĩa từ ấy lại thay đổi: ma -
má - mà - mạ - mã - mả). Nhưng các bạn ở forum này, cũng như tôi, đều
không có vấn đề gì cả với cái sinh ngữ khó vào bậc nhất ấy!
Tuy nhiên, những thầy cô dạy chúng ta nghe nói tiếng Việt chẳng phải là
những vị chuyên viên ngôn ngữ như các thầy cô ngoại ngữ mà ta học tại
các trường. Thầy dạy tiếng Việt chúng ta là tất cả những người quanh ta
từ ngày ta ra đời: cha mẹ, anh chị, hàng xóm, bạn bè… nghĩa là đại đa số
những người chưa có một giờ sư phạm nào cả, thậm chí không có một khái
niệm nào về văn phạm tiếng Việt. Thế mà ta nghe tiếng Việt thoải mái và
nói như sáo. Còn tiếng Anh thì không thể như thế được. Ấy là vì đối với
tiếng Việt, chúng ta học theo tiến trình tự nhiên, còn ngoại ngữ thì ta
học theo tiến trình phản tự nhiên.
Từ lúc sinh ra chúng ta đã
NGHE mọi người nói tiếng Việt chung quanh (mà chẳng bao giờ ta phản đối:
"tôi chẳng hiểu gì cả, đừng nói nữa"! Mới sinh thì biết gì mà hiểu và
phản đối!). Sau một thời gian dài từ 9 tháng đến 1 năm, ta mới NÓI những
tiếng nói đầu tiên (từng chữ một), mà không hiểu mình nói gì. Vài năm
sau vào lớp mẫu giáo mới học ĐỌC, rồi vào lớp 1 (sáu năm sau khi bắt đầu
nghe) mới tập VIẾT… Lúc bấy giờ, dù chưa biết viết thì mình đã nghe
đưọc tất cả những gì người lớn nói rồi (kể cả điều mình chưa hiểu). Như
vậy, tiến trình học tiếng Việt của chúng ta là Nghe - Nói - Đọc - Viết.
Giai đoạn dài nhất là nghe và nói, rồi sau đó từ vựng tự thêm vào mà ta
không bao giờ bỏ thời gian học từ ngữ. Và ngữ pháp (hay văn phạm) thì
đến cấp 2 mới học qua loa, mà khi xong trung học thì ta đã quên hết 90%
rồi.
Nhưng tiến trình ta học tiếng Anh (hay bất cứ ngoại ngữ nào) thì hoàn toàn ngược lại.
Thử nhìn lại xem: Trước tiên là viết một số chữ và chua thêm nghĩa
tiếng Việt nếu cần. Và kể từ đó, học càng nhiều từ vựng càng tốt, kế đến
là học văn phạm, rồi lấy từ vựng ráp vào cho đúng với văn phạm mà VIẾT
thành câu! Rồi loay hoay sửa cho đúng luật! Sau đó thì tập ĐỌC các chữ
ấy trúng được chừng nào hay chừng ấy, và nhiều khi lại đọc một âm tiếng
Anh bằng một âm tiếng Việt! (ví dụ fire, fight, five, file… đều được đọc
là ‘phai’ ). Sau đó mới tới giai đoạn NÓI, mà ‘nói’ đây có nghĩa là Đọc
Lớn Tiếng những câu mình viết trong đầu mình, mà không thắc mắc người
đối thoại có hiểu 'message' của mình hay không vì mình chỉ lo là nói có
sai văn phạm hay không. Lúc bấy giờ mới khám phá rằng những câu mình
viết thì ai cũng hiểu, như khi mình nói thì chỉ có mình và … Thượng Đế
hiểu thôi, còn người bản xứ (tiếng Anh) thì ‘huh - huh’ dài cổ như cổ
cò! Thế là học nói bằng cách sửa đổi phát âm những từ nào chưa chuẩn cho
đến khi người khác có thể hiểu được.
Sau thời gian dài thật
dài, mình khám phá rằng mình từng biết tiếng Anh, và nói ra thì người
khác hiểu tàm tạm, nhưng khi họ nói thì mình không nghe được gì cả
(nghĩa là nghe không hiểu gì cả). Lúc bấy giờ mới tập NGHE, và rồi đành
bỏ cuộc vì cố gắng mấy cũng không hiểu được những gì người ta nói.
Vấn đề là ở đó: chúng ta đã học tiếng Anh ngược với tiến trình tự
nhiên, vì quá thông minh và có quá nhiều kinh nghiệm. Tiến trình ấy là
Viết - Đọc - Nói - Nghe!
Vì thế, muốn nghe và nói tiếng Anh,
chuyện đầu tiên là phải quên đi kinh nghiệm và trí thông minh, để trở
lại trạng thái ‘sơ sinh và con nít’, và đừng sử dụng quá nhiều chất xám
để phân tích, lý luận, dịch thuật!
LÀM SAO ĐỂ NGHE ĐƯỢC TIẾNG ANH???
PHẦN 2: BỐC THUỐC
=====================================
Và đây là bí quyết để NGHE
A. NGHE THỤ ĐỘNG:
1. TẮM NGÔN NGỮ: (Nghe không cần hiểu: Hãy nghe! Đừng hiểu)
Bạn chép vào CD một số bài tiếng Anh. Mỗi bài có thể dài từ 1 đến 5 phút.
Khi nào bạn ở nhà một mình, thì mở các bài đó ra vừa đủ nghe, và cứ lặp
đi lặp lại mãi ra rả như âm thanh nền suốt ngày. Bạn không cần để ý đến
nó. Bạn cứ làm việc của mình, đánh răng, rửa mặt, học bài làm bài, vào
internet… với tiếng lải nhải của bài tiếng Anh. (thậm chí, trong lúc bạn
ngủ cũng có thể để cho nó nói).
Trường hợp bạn có CD player, USB
player hay iPod, thì đem theo để mở nghe khi mình có thời gian chết - ví
dụ: di chuyển lâu giờ trên xe, đợi ai hay đợi đến phiên mình tại phòng
mạch.
Công việc ‘tắm ngôn ngữ’ này rất quan trọng, vì cho ta
nghe đúng với từng âm của một ngôn ngữ lạ. Tai của chúng ta bắt rất
nhanh một âm quen, nhưng loại trừ những âm lạ. Ví dụ: Nếu bạn nghe câu:
‘mặt trời mọc cánh khi chim voi truy cập chén chó’, một câu hoàn toàn vô
nghĩa, nhưng bảo bạn lặp lại thì bạn lặp lại được ngay, vì bạn đã quá
quen với các âm ấy. Nhưng khi một người nói một câu bằng chừng ấy âm
(nghĩa là 11 âm/vần), trong ngôn ngữ bạn chưa từng học, và bảo bạn lặp
lại thì bạn không thể nào lặp lại được, và bảo rằng… không nghe được!
(Bạn có điếc đâu! Vấn đề là tai bạn không nhận ra được các âm!) Lối 'tắm
ngôn ngữ' đó chỉ là vấn đề làm quen đôi tai, và sau một thời gian (lâu
đấy chứ không phải vài ngày) bạn sẽ bắt được các âm của tiếng Anh, và
thấy rằng âm ấy rất dễ nghe, nhưng hoàn toàn khác với âm Việt. Đừng nản
lòng vì lâu ngày mình vẫn không phân biệt âm: hãy nhớ rằng bạn đã tắm
ngôn ngữ tiếng Việt ít ra là 9 tháng liên tục ngày đêm trước khi mở
miệng nói được tiếng nói đầu tiên và hiểu được một hai tiếng ngắn của
cha mẹ; và sau đó lại tiếp tục 'tắm ngôn ngữ' Việt cho đến 4, 5 năm nữa!
2 - NGHE VỚI HÌNH ẢNH ĐỘNG:
Nếu có giờ thì xem một số tin tức bằng tiếng Anh (một điều khuyên
tránh: đừng xem chương trình tiếng Anh của các đài Việt Nam, ít ra là
giai đoạn đầu, vì xướng ngôn viên Việt Nam, phần lớn, nói rất gần với âm
Việt Nam (kể cả pronunciation), nên mình dễ quen nghe, và từ đó lỗ tai
mình lại hỏng, về sau lại khó nghe người bản xứ nói tiếng Anh - thế là
phải học lại lần thứ hai!). Các hình ảnh đính kèm làm cho ta ‘hiểu’ được
ít nhiều nội dung bản tin, mà không cần phải ‘dịch’ từng câu của những
gì xướng ngôn viên nói. Bạn sẽ yên tâm hơn, sau khi nghe 15 phút tin
tức, tự tóm lược lại, thì thấy rằng mình đã nắm bắt được phần chính yếu
của nội dung bản tin. Và đây là cách thứ hai để tắm ngôn ngữ.
B. NGHE CHỦ ĐỘNG:
1. BẢN TIN SPECIAL ENGLISH:
- Thu một bản tin, và nghe lại rồi chép ra nhiều chừng nào hay chừng
nấy… nhớ là đừng tra cứu tự điển hay tìm hiểu nghĩa vội. Đoán nghĩa
trong nội dung câu, và nhớ lại âm thanh của từ, hay cụm từ đó, sau này
tự nó sẽ rõ nghĩa, nếu trở đi trở lại hoài.
(Ngày xưa, trên đài
VOA, sau mỗi chương trình tôi thường nghe một cụm từ tương tự như:
statue, statute hay statu gì đó, mà không biết viết thế nào, tuy vẫn
hiểu đại loại là: hãy đợi đấy để nghe tiếp. Mãi sau này tôi mới biết
rằng thuật ngữ rất quen thuộc ấy là 'stay tuned', nhưng một thời gian
dài, chính tả của chữ ấy đối với tôi không thành vấn đề!)
2. CHĂM CHÚ NGHE LẠI một số bài mình từng nghe trong giai đoạn ‘tắm ngôn ngữ’
- Lấy lại script của những bài mình từng nghe, đọc lại và nhớ lại trong tưởng tượng lời đọc mà mình từng nghe nhiều lần.
Sau đó xếp bản script và nghe lại để hiểu. Lần này: tự nhiên mình sẽ
nghe rõ từng tiếng và hiểu. Trường hợp không hiểu một từ hay cụm từ, thì
gắng lặp lại nhiều lần đúng như mình đã nghe, sau đó lật lại script để
so sánh.
3. MỘT SỐ BÀI AUDIO:
- Nghe nhiều lần, trước khi
đọc script. Sau đó, đọc lại script, chủ yếu kiểm tra những từ mình đã
nghe hoặc đoán, hoặc những từ mà mình có thể phát âm lại nhưng không
hiểu viết và nghĩa thế nào. Qua việc này, nhiều khi ta phát hiện rằng
một từ mình rất quen thuộc mà từ xưa đến nay mình cứ in trí là phải nói
một cách nào đó, thì thực ra cần phải nói khác hẳn và phát âm như thế
thì mới mong nghe đúng và nói cho người khác hiểu. Sau đó, xếp bản
script và nghe lại một hai lần nữa. (Ví dụ: hai chữ tomb, bury, khi xưa
tôi cứ đinh ninh là sẽ phát âm là 'tôm-b(ơ), bơri' - sau này nghe chữ
'tum, beri' tôi chẳng hiểu gì cả - dù cho tôi nghe rõ ràng là tum, beri
-cho đến khi xem script thì mới vỡ lẽ!)
4. HỌC HÁT TIẾNG ANH, và hát theo trong khi nghe.
Chọn một số bài hát mà mình thích, tìm lyrics của nó rồi vừa nghe vừa
nhìn lyrics. Sau đó học thuộc lòng và hát song song với ca sĩ, và gắng
phát âm cũng như giữ tốc độ và trường độ cho đúng. Khi nào buồn buồn
cũng có thể tự hát cho mình nghe (nếu không có giọng tốt và hát sai
giọng một tí cũng không sao, vì chủ yếu là tập phát âm, tốc độ, trường
độ và âm điệu tiếng Anh).
Và nói cho đúng giọng (qua hát) cũng
là một cách giúp mình sau này nhạy tai hơn khi nghe, vì thường thường
ngôn ngữ trong các bài hát khó nghe hơn những câu nói bình thường rất
nhiều.
--------------
Trước khi tạm dừng topic này, tôi muốn nói thêm một điều.
Có bạn bảo rằng hiện nay mình chưa hiểu, nên cố gắng nghe nhiều cũng vô
ích, để mình học thêm, khi nào có nhiều từ vựng để hiểu rồi thì lúc đó
sẽ tập nghe sau.
Nghĩ như thế là HOÀN TOÀN SAI. Chính vì bạn
chưa hiểu nên mới cần nghe nhiều hơn những người đã hiểu. Muốn biết bơi
thì phải nhảy xuống nước, không thể lấy lý do rằng vì mình không thể nổi
nên ở trên bờ học cho hết lý thuyết rồi thì mới nhảy xuống, và sẽ biết
bơi! Chưa biết bơi mà xuống nước thì sẽ uống nước và ngộp thở đấy, nhưng
phải thông qua uống nước và ngộp thở như thế thì mới hy vọng biết bơi.
Muốn biết bơi, thì phải nhảy xuống nước, và nhảy khi chưa biết bơi. Chính vì chưa biết bơi nên mới cần nhảy xuống nước.
Muốn biết nghe và hiểu tiếng Anh thì phải nghe tiếng Anh, nghe khi chưa
hiểu gì cả! Và chính vì chưa hiểu gì nên cần phải nghe nhiều.
PHẦN 3: CHỮA BỆNH - CỰC KÌ QUAN TRỌNG
======================================
Phần này hơi dài, tuy nhiên Ad khẳng định là các bạn sẽ không cảm thấy
nuối tiếc khi bỏ thời gian ra đọc nó đâu!!!! Nếu đủ kiên nhẫn đọc hết
bài này thì Ad tin con đường chinh phục ngoại ngữ này của các bạn sẽ
không còn xa nữa đâu!
Believe in me plzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzzz! ^^
Cùng SHARE cho nhiều người khác biết nữa các mems nhé!!!!
- NGHE BẰNG TAI -
Khi tôi bảo rằng chúng ta gặp trở ngại khi học ngoại ngữ vì thông minh
và có nhiều kinh nghiệm, có người cho rằng đó là nói theo nghĩa bóng.
Không phải đâu, tôi nói theo nghĩa đen đó! Qua sự kiện sau (và ACE chắc
chắn cũng từng gặp những trường hợp tương tự) ACE sẽ thấy ngay. Một
người bạn từng dạy Anh Văn ở Trung Tâm Ngoại Ngữ với tôi, sau này sang
định cư ở Mỹ. Anh cùng đi với đứa con 7 tuổi, chưa biết một chữ tiếng
Anh nào. 11 năm sau tôi gặp lại hai cha con tại Hoa Kỳ. Con anh nói và
nghe tiếng Anh không khác một người Mỹ chính cống. Trong khi đó anh nói
tiếng Anh tuy lưu loát hơn xưa, nhưng rõ ràng là một người nước ngoài
nói tiếng Mỹ. Khi xem chương trình hài trên TV, con anh cười đúng với
tiếng cười nền trong chương trình, trong khi đó anh và tôi nhiều khi
không hiểu họ nói gì đáng cười: rõ ràng là kỹ năng nghe của con anh hơn
anh rồi! Điều này chứng tỏ rằng khi sang Mỹ, anh đã có kinh nghiệm về
tiếng Anh, và ‘khôn’ hơn con anh vì biết nhiều kỹ thuật, phương pháp học
tiếng Anh, nên tiếp tục học tiếng Anh theo tiến trình phản tự nhiên;
trong khi con anh, vì không ‘thông minh’ bằng anh, và thiếu kinh nghiệm,
nên đã học tiếng Anh theo tiến trình tự nhiên mà không theo một phương
pháp cụ thế nào để học vocabulary, grammar, listening, speaking cả.
- ĐI VÀO CỤ THỂ TỪ VỰNG ANH:
(Những phân tích sau đây là để thuyết phục ACE đi vào tiến trình tự
nhiên - và điều này đòi hỏi phải xóa bỏ cái phản xạ lâu ngày của mình là
học theo tiến trình ngược - và công việc xóa bỏ cái phản xạ sai này lại
làm cho ta mất thêm thì giờ. ACE đọc để tin vào tiến trình tự nhiên,
chứ không phải để nhớ những phân tích ‘tào lao’ này, khiến lại bị trở
ngại thêm trong quá trình nâng cao kỹ năng của mình)
- XÓA BỎ KINH NGHIỆM NGHE NGUYÊN ÂM:
Tiếng Anh là tiếng phụ âm. Tiếng Anh chủ yếu là ngôn ngữ đa âm: một từ
thường có nhiều âm. Lỗ tai chúng ta đã ‘bị điều kiện hóa’ để nghe âm
tiếng Việt. Tiếng Việt là loại tiếng đơn âm, vì thế, mỗi tiếng là một âm
và âm chủ yếu trong một từ là nguyên âm. Đổi một nguyên âm thì không
còn là từ đó nữa: ‘ma, mi, mơ’ không thể hoán chuyển nguyên âm cho nhau,
vì ba từ có ba nghĩa hoàn toàn khác nhau. Mặc khác, tiếng Việt không
bao giờ có phụ âm cuối từ. Ngay cả những chữ mà khi viết có phụ âm cuối,
thì người việt cũng không đọc phụ âm cuối; ví dụ: trong từ ‘hát’,
nguyên âm mới là ‘át’, h(ờ)-át, chứ không phải là h(ờ)-á-t(ơ), trong khi
đó từ ‘hat’ tiếng Anh được đọc là h(ờ)-a-t(ờ), với phụ âm ‘t’ rõ ràng.
Trong tiếng Việt hầu như không có những từ với hai phụ âm đi kế tiếp
(ngoài trừ ch và tr - nhưng thực ra, ch và tr cũng có thể thay bằng 1
phụ âm duy nhất) vì thế, tai của một người Việt Nam - chưa bao giờ làm
quen với ngoại ngữ - không thể nhận ra hai phụ âm kế tiếp. Do đó, muốn
cho người Việt nghe được một tiếng nước ngoài có nhiều phụ âm kế tiếp,
thì phải thêm nguyên âm (ơ) vào giữa các phụ âm; ví dụ: Ai-xơ-len;
Mat-xơ-cơ-va.
Với kinh nghiệm (phản xạ) đó, một khi ta nghe
tiếng Anh, ta chờ đợi nghe cho đủ các nguyên âm như mình NHÌN thấy trong
ký âm (phonetic signs), và không bao giờ nghe được cả. Ví dụ: khi học
từ America ta thấy rõ ràng trong ký âm: (xin lỗi vì không thể ghi
phonetic signs vào trang này) ‘ơ-me-ri-kơ’, nhưng không bao giờ nghe đủ
bốn âm cả, thế là ta cho rằng họ ‘nuốt chữ’. Trong thực tế, họ đọc đủ
cả, nhưng trong một từ đa âm (trong khi viết) thì chỉ đọc đúng nguyên âm
ở dấu nhấn (stress) - nếu một từ có quá nhiều âm thì thêm một âm có dấu
nhấn phụ (mà cũng có thể bỏ qua) - và những âm khác thì phải đọc hết
các PHỤ ÂM, còn nguyên âm thì sao cũng đưọc (mục đích là làm rõ phụ âm).
Có thể chúng ta chỉ nghe: _me-r-k, hay cao lắm là _me-rơ-k, và như thế
là đủ, vì âm ‘me’ và tất cả các phụ âm đều hiện diện. Bạn sẽ thắc mắc,
nghe vậy thì làm sao hiểu? Thế trong tiếng Việt khi nghe ‘Mỹ’ (hết)
không có gì trước và sau cả, thì bạn hiểu ngay, tại sao cần phải đủ bốn
âm là ơ-mê-ri-kơ bạn mới hiểu đó là ‘Mỹ’? Tóm lại: hãy nghe phụ âm, đừng
chú ý đến nguyên âm, trừ âm có stress!
Một ví dụ khác: từ
interesting! Tôi từng được hỏi, từ này phải đọc là in-tơ-res-ting hay
in-tơ-ris-ting mới đúng? Chẳng cái nào đúng, chẳng cái nào sai cả. Nhưng
lối đặt vấn đề sai! Từ này chủ yếu là nói ‘in’ cho thật rõ (stress) rồi
sau đó đọc cho đủ các phụ âm là người ta hiểu, vì người bản xứ chỉ nghe
các phụ âm chứ không nghe các nguyên âm kia; nghĩa là họ nghe:
in-trstng; và để rõ các phụ âm kế tiếp thì họ có thể nói
in-tr(i)st(i)ng; in-tr(ơ)st(ơ)ng; in-tr(e)st(ư)ng. Mà các âm (i) (ơ), để
làm rõ các phụ âm, thì rất nhỏ và nhanh đến độ không rõ là âm gì nữa.
Trái lại, nếu đọc to và rõ in-tris-ting, thì người ta lại không hiểu vì
dấu nhấn lại sang 'tris'!
Từ đó, khi ta phát âm tiếng Anh (nói
và nghe là hai phần gắn liền nhau - khi nói ta phát âm sai, thì khi nghe
ta sẽ nghe sai!) thì điều tối quan trọng là phụ âm, nhất là phụ âm
cuối. Lấy lại ví dụ trước: các từ fire, fight, five, file phải được đọc
lần lượt là fai-(ơ)r; fai-t(ơ); fai-v(ơ), và fai-(ơ)l, thì người ta mới
hiểu, còn đọc 'fai' thôi thì không ai hiểu cả.
Với từ ‘girl’
chẳng hạn, thà rằng bạn đọc gơ-rôl / gơ-rơl (dĩ nhiên chỉ nhấn gơ thôi),
sai hẳn với ký âm, thì người ta hiểu ngay, vì có đủ r và l, trong khi
đó đọc đúng ký âm là ‘gơ:l’ hay bỏ mất l (gơ) thì họ hoàn toàn không
hiểu bạn nói gì; mà có hiểu chăng nữa, thì cũng do context của câu chứ
không phải là do bạn đã nói ra từ đó.
- XÓA BỎ KINH NGHIỆM NGHE ÂM VIỆT:
Các nguyên âm Việt và Anh không hề giống nhau. Một âm rất rõ trong
tiếng Anh sẽ rất nhoè với một lỗ tai người Việt, và một âm rất rõ trong
tiếng Việt thì rất nhoè trong lỗ tai người Anh (người bản xứ nói tiếng
Anh). Ví dụ: Khi bạn nói: “Her name’s Hương!” Bạn đọc từ Hương thật rõ!
Thậm chí la lên thật to và nói thật chậm thì người ấy vẫn không nghe ra.
Vì ‘ươ’ đối với họ là âm rất nhoè. Nhưng nói là ‘Hu-ôn-gh(ơ)’ họ nghe
rõ ngay; từ đó ta phải hiểu họ khi nói đến cô Huôngh chứ đừng đòi hỏi họ
nói tên Hương như người Việt (phải mất vài năm!).
Tương tư
như vậy, không có nguyên âm tiếng Anh nào giống như nguyên âm tiếng
Việt. Nếu ta đồng hóa để cho dễ mình, là ta sẽ không nghe được họ nói,
vì thế giới này không quan tâm gì đến cách nghe của người Việt Nam đối
với ngôn ngữ của họ. Ví dụ: âm ‘a’ trong ‘man’ thì không phải là ‘a’ hay
‘ê’ hay ‘a-ê’ hay ‘ê-a’ tiếng Việt, mà là một âm khác hẳn, không hề có
trong tiếng Việt. Phải nghe hàng trăm lần, ngàn lần, thậm chí hàng chục
ngàn lần mới nghe đúng âm đó, và rất rõ! Ấy là chưa nói âm ‘a’ trong từ
này, được phát âm khác nhau, giữa một cư dân England (London), Scotland,
Massachusetts (Boston), Missouri, Texas!
Cũng thế, âm ‘o’
trong ‘go’ không phải là ‘ô’ Việt Nam, cũng chẳng phải là ô-u (như cách
phiên âm xưa) hay ơ-u (như cách phiên âm hiện nay), lại càng không phài
là ‘âu’, mà là một âm khác hẳn tiếng Việt. Phát âm là ‘gô’, ‘gơu’ hay
‘gâu’ là nhoè hẳn, và do đó những từ dễ như ‘go’ cũng là vấn đề đối với
chúng ta khi nó được nói trong một câu dài, nếu ta không tập nghe âm ‘ô’
của tiếng Anh đúng như họ nói. Một âm nhoè thì không có vấn đề gì,
nhưng khi phải nghe một đoạn dài không ngưng nghỉ thì ta sẽ bị rối ngay.
Đây cũng là do một kinh nghiệm tai hại xuất phát từ việc tiếp thu kiến
thức. Trong quá trình học các âm tiếng Anh, nhiều khi giáo viên dùng âm
Việt để so sánh cho dễ hiểu, rồi mình cứ xem đó là ‘chân lý’ để không
thèm nghĩ đến nữa. Ví dụ, muốn phân biệt âm (i) trong sheep và ship, thì
giáo viên nói rằng I trong sheep là ‘I dài’ tương tự như I trong tiếng
Bắc: ít; còn I trong ship là I ngắn, tương tự như I trong tiếng Nam: ít -
ích. Thế là ta cho rằng mình đã nghe được I dài và I ngắn trong tiếng
Anh rồi, nhưng thực chất là chưa bao giờ nghe cả! Lối so sánh ấy đã tạo
cho chúng ta có một ý niệm sai lầm; thay vì xem đấy là một chỉ dẫn để
mình nghe cho đúng âm, thì mình lại tiếp thu một điều sai! Trong tiếng
Anh không có âm nào giống âm I bắc hoặc I nam cả! Bằng chứng: ‘eat’
trong tiếng Anh thì hoàn toàn không phải là ‘ít’ trong tiếng Việt, đọc
theo giọng bắc, và ‘it’ trong tiếng Anh hoàn toàn không phải là ‘ít’
trong tiếng Việt, đọc theo giọng nam! Vì thế, phải xóa bỏ những kinh
nghiệm loại này, và phải nghe trực tiếp thôi!
- XÓA BỎ KINH NGHIỆM NGHE BẰNG CHỮ VIẾT:
Nếu ta hỏi một em bé: cháu nghe bằng gì? Thì nó sẽ trả lời: Nghe bằng
tai! Nếu ta bảo: “Cháu phải nghe bằng mắt cơ!” Chắc em bé tưởng ta …
trêu cháu! Thế nhưng điều xảy ra cho nhiều người học tiếng nước ngoài là
Nghe Bằng Mắt!
Thử nhìn lại xem. Trong giai đoạn đầu tiếp xúc
với tiếng Anh, khi ta nghe một người nói: “I want a cup of coffee!”. Tức
tốc, chúng ta thấy xuất hiện câu ấy dưới dạng chữ Viết trong trí mình,
sau đó mình dịch câu ấy ra tiếng Việt, và ta HIỂU! Ta Nghe bằng MẮT, nếu
câu ấy không xuất hiện bằng chữ viết trong đầu ta, ta không Thấy nó,
thì ta … Điếc!
Sau này, khi ta có trình độ cao hơn, thì ta hiểu
ngay lập tức chứ không cần phải suy nghĩ lâu. Thế nhưng tiến trình cũng
chẳng khác nhau bao nhiêu, ta vẫn còn thấy chữ xuất hiện và dịch, cái
khác biệt ấy là ta viết và dịch rất nhanh, nhưng từ một âm thanh phát ra
cho đến khi ta hiểu thì cũng thông qua ba bước: viết, dịch, hiểu. Khi
ta đi đến một trình độ nào đó, thì trong giao tiếp không có vấn đề gì
cả, vì các câu rất ngắn, và ba bước đó được 'process' rất nhanh nên ta
không bị trở ngại, nhưng khi ta nghe một bài dài, thì sẽ lòi ra ngay, vì
sau hai, ba, bốn câu liên tục 'processor' trong đầu ta không còn đủ thì
giờ để làm ba công việc đó. Trong lúc nếu một người nói bằng tiếng Việt
thì ta nghe và hiểu ngay, không phải viết và dịch (tại vì ngày xưa khi
ta học tiếng Việt thì quá trình là nghe thì hiểu ngay, chứ không thông
qua viết và dịch, vả lại, nếu muốn dịch, thì dịch ra ngôn ngữ nào?), và
người nói có nhanh cách mấy thì cũng không thể nào vượt cái khả năng duy
nhất của chúng ta là 'nghe bằng tai'.
Vì thế, một số sinh viên
cảm thấy rằng mình tập nghe, và đã nghe được, nhưng nghe một vài câu
thì phải bấm ‘stop’ để một thời gian chết - như computer ngưng mọi sự
lại một tí để process khi nhận quá nhiều lệnh - rồi sau đó nghe tiếp;
nhưng nếu nghe một diễn giả nói liên tục thì sau vài phút sẽ ‘điếc’. Từ
đó, người sinh viên nói rằng mình ‘đã tới trần rồi, không thể nào tiến
xa hơn nữa! Vì thế giới này không stop cho ta có giờ hiểu kịp’!’(1)
Từ những nhận xét trên, một trong việc phải làm để nâng cao kỹ năng
nghe, ấy xóa bỏ kinh nghiệm Nghe bằng Mắt, mà trở lại giai đoạn Nghe
bằng Tai, (hầu hết các du học sinh ở nước ngoài, sau khi làm chủ một
ngoại ngữ rồi từ trong nước, đều thấy ‘đau đớn và nhiêu khê’ lắm khi
buộc phải bỏ thói quen nghe bằng mắt để trở lại với trạng thái tự nhiên
là nghe bằng tai! Có người mất cả 6 tháng cho đến 1 năm mới tàm tạm vượt
qua).
- XÓA BỎ KINH NGHIỆM NGHE BẰNG CẤU TRÚC VĂN PHẠM:
Khi nghe ai nói, ta viết một câu vào đầu, và sửa cho đúng văn phạm, rồi
mới dịch, và sau đó mới hiểu! Ví dụ. Ta nghe ‘iwanago’ thì viết trong
đầu là ‘I want to go’, xong rồi mới dịch và hiểu; nếu chưa viết được như
thế, thì iwanago là một âm thanh vô nghĩa.
Thế nhưng, nếu ta
nghe lần đầu tiên một người nói một câu hằng ngày: igotago, ta không thể
nào viết thành câu được, và vì thế ta không hiểu. Bởi vì thực tế, câu
này hoàn toàn sai văn phạm. Một câu đúng văn phạm phải là ‘I am going to
go’ hoặc chí ít là ‘I have got to go’. Và như thế, đúng ra thì người
nói, dù có nói tốc độ, cũng phải nói hoặc: I'm gona go; hoặc I’ve gota
go (tiếng Anh không thể bỏ phụ âm), chứ không thể là I gotta go! Thế
nhưng trong thực tế cuộc sống người ta nói như vậy, và hiểu rõ ràng, bất
chấp mọi luật văn phạm. Văn phạm xuất phát từ ngôn ngữ sống, chứ không
phải ngôn ngữ sống dựa trên luật văn phạm. Do đó, ta cũng phải biết nghe
mà hiểu; còn cứ đem văn phạm ra mà tra thì ta sẽ khựng mãi. (Tôi đang
nói về kỹ năng nghe, còn làm sao viết một bài cho người khác đọc thì lại
là vấn đề khác!)
Tóm lại, trong phần chia sẻ này, tôi chỉ muốn
nhắc với ACE rằng, hãy NGHE ĐIỀU NGƯỜI TA NÓI, CHỨ ĐỪNG NGHE ĐIỂU MÌNH
MUỐN NGHE, và muốn được như vậy, thì HÃY NGHE BẰNG TAI, ĐỪNG NGHE BẰNG
MẮT!
PHẦN 4: THUỐC BỔ CHO VIỆC "NGHE TIẾNG ANH" (HẾT)
============================
Nghe tiếng Anh và ‘nghe’ tiếng Anh
1. "NGHE" TRONG NGỮ CẢNH:
Tôi từng nhắc đi nhắc lại rằng đừng bao giờ tra từ điển khi mình nghe
một diễn từ. Điều chủ yếu là nghe và lặp lại được những âm thanh đã
nghe, rồi dần dần hiểu được một từ mới, khi nó xuất hiện trong nhiều nội
dung khác nhau (nếu cả năm mình mới
nghe từ đó một lần, có nghĩa là từ ấy không thông dụng và, trong giai
đoạn này, ta không cần phải bận tâm đến nó!). Ví dụ: bạn nghe nhiều lần
(âm thanh) ‘oubou’ mà không hiểu nghĩa, lần lượt trong những câu sau:
- To play the ‘oubou’ you need to have strong arms.
- The ‘oubou’ is considered one of the most difficult instruments to play.
- The ‘oubou’ is very difficult to play, because Karen must force air at very high pressure into the tiny double reed.
Lần đầu tiên, bạn chẳng biết âm ‘oubou’ chỉ cái gì, nhưng vì đi với
play nên bạn đoán rằng đó là một cái gì để ‘chơi’. Như thế là đã ‘hiểu’
một cách tổng quát. Lần 2, với từ ‘instrument’ bạn biết rằng đó là cái
để ‘chơi’ nhưng không phải là trong thể thao, mà là trong âm nhạc. Lần
thứ ba, với cụm từ ‘must force air’ thì ta biết rằng đó là một nhạc cụ
thổi hơi (khí nhạc) chứ không phải là nhạc cụ dây hay gõ… Và ta tạm hiểu
như thế, mà không cần biết phải viết thế nào, cho đến khi đọc câu sau
(chẳng hạn):
The oboe looks very similar to the clarinet, but sounds very different!
Thế là ta biết được rõ ràng đó là một nhạc khí tương tự như clarinet,
và từ mà ta nghe là ‘oubou’ thì được viết là oboe (và ta đọc đúng ngay
chứ không cần phải tra từ điển!)
Ps: Đây cũng là vấn đề ‘hiểu’
một từ. Chúng ta có cảm giác rằng nếu dịch được tiếng ấy ra là ta hiểu
ngay, thế nhưng không có gì sai cho bằng. Nếu bạn học theo quá trình
ngược, nghĩa là khởi sự biết từ ấy dưới dạng chữ viết, bạn sẽ tra từ
điển và đọc là: kèn ô-boa! Bạn thấy hài lòng vì mình đã hiểu! Nhưng thực
ra, nếu bạn không phải là một nhạc sĩ, thì ‘kèn ô-boa’ cũng chẳng thêm
gì trong kiến thức bạn. Ngay trong tiếng mẹ đẻ, ta có thể hài lòng với
khái niệm mơ hồ về một từ, nhưng khi học ngoại ngữ thì ta có cái cảm
giác sai lầm là phải trở lại với từ mẹ đẻ mới gọi là hiểu. Đối với tôi,
nightingale là một loại chim có tiếng hót hay và thường hót vào ban đêm,
còn có dịch ra là ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’ thì cũng bằng thừa, vì tôi chưa
bao giờ thấy và biết chim ‘sơn ca’ hay ‘họa mi’. Thậm chí không biết là
có phải một loài chim hay hai loài chim khác nhau, vì cả hai từ đều
được dịch là nightingale.
2. "NGHE" TRONG TOÀN BỘ BỐI CẢNH:
Ta thường nghĩ rằng: ‘một từ thì có một nghĩa nhất định’. Hoàn toàn sai.
- Thử tra từ ‘tiêu cực’ trong từ điển: negative. Như thế, ‘một cán bộ
tiêu cực’ phải được dịch là ‘a negative cadre’! Nếu cụm từ tiếng Việt có
ý nghĩa rõ ràng thì cụm từ dịch ra tiếng Anh (như trên) là hoàn toàn vô
nghĩa! Nói cách khác: khi người Anh nói ‘negative’, thì người Việt hiểu
là ‘tiêu cực’; nhưng khi người Việt nói ‘tiêu cực’, thì người Anh không
thể hiểu là ‘negative.’
- Từ đó ta không thể nào hiểu đúng
nghĩa một từ tiếng Anh nếu không đặt vào trong bối cảnh của nó. Ví dụ:
nếu không để ý rằng câu chuyện xảy ra ở Anh hay ở Mỹ, thì khi nghe từ
corn ta có thể hiểu sai: Ở Anh là lúa mì, và ở Mỹ là bắp!
Nếu
thấy một người mở nắp bình xăng lên mà nói ‘Oh my! No more gas’ thì ta
hiểu ngay rằng ‘gas’ chính là ‘xăng’, mặc dù trước đó mình có thể học:
petrol hay gasoline mới là xăng, còn gas có nghĩa là khí đốt!
Mà nhiều khi bối cảnh rõ đến nỗi, người ta dùng một từ sai mình cũng
hiểu đúng. Bạn cứ thử đến cây xăng, mở bình và nói: đổ cho tôi 30.000
dầu! Tôi cam đoan là người ta không thắc mắc gì cả và sẽ đổ XĂNG chứ
không đổ DẦU vào xe bạn; cao lắm là trong 100 lần, thì một lần người ta
nhắc lại: đổ xăng phải không? Bạn nói là Dầu người ta vẫn hiểu là Xăng.
Và trong tiếng Anh cũng thế! Bạn sẽ hiểu một từ trong toàn bộ bối cảnh
của nó.
3. NGHE VỚI TẤT CẢ GIAI ĐIỆU CỦA CÂU:
Trong
phần đầu tôi nói rằng khi ‘nghe’ một câu, chủ yếu là làm sao nắm bắt
được thông tin của chuỗi âm thanh ấy. Nói cách khác, ngôn ngữ có nhiệm
vụ là truyền tin. Nhưng ngoài nhiệm vụ truyền tin thì còn một nhiệm vụ
thứ hai, vô cùng quan trọng, ấy là nhiệm vụ truyền cảm (truyền một tình
cảm). Một câu nói giao tiếp hằng ngày, luôn chuyển tải một phần của thất
tình (= bảy tình cảm con người, chứ không phải là bị tình phụ đâu: hỉ,
nộ, ai, lạc, ái, ố, dục). Vì thế, cao độ, tốc độ, cường độ của câu nói,
trường độ (độ dài) và dấu nhấn của một từ, có thể là điều mình cần phải
‘nghe’ cùng một lúc với các âm thanh được phát ra, thậm chí nghe âm điệu
là chính. Nếu không thì ta hiểu sai, hoặc không hiểu gì cả. Đừng tưởng
rằng khi ta nghe được từ ‘hate’ là ta hiểu ngay: ghét!
Vì dụ nghe
một cô gái nói với một cậu trai: I hate you! Câu này không phải lúc nào
cũng là ‘Em ghét anh'! Nói với một ngữ điệu nào đó thì có thể hiểu là:
Tôi căm thù anh; hay Thôi, để tôi yên; hay Anh làm tôi bực mình; hoặc
trái lại: Anh làm em cảm động quá; thậm chí: Em yêu anh quá chừng chừng!
Và cách nhấn câu cũng thế. Ví dụ trong câu sau đây:
I didn’t say Paul stole my watch!
Nếu người nói nhấn mạnh các từ theo 7 cách khác nhau, mỗi cách nhấn một
từ ( I - didn’t - say - Paul - stole - my - watch ) thì nghĩa sẽ khác
nhau hoàn toàn:
I didn’t say Paul stole my watch! (Somebody else said that!)
I didn’t say Paul stole my watch! (No! I didn't act like that)
I didn’t say Paul stole my watch! (I disclosed by another way, but I didn't SAY) v.v
Khi học tiếng Việt, chúng ta nghe toàn bộ giai điệu, nên nghe (và nói)
đúng cao độ của một từ (đúng các dấu); thế nhưng khi một người nước
ngoài học tiếng Việt, chúng ta phải khổ công giải thích cho họ lên
giọng, xuống giọng, uốn giọng như thế nào để nói các dấu sắc, huyền,
nặng, hỏi - ngã (do học nghe bằng tai nên người Nam và người Trung đồng
hóa ? và ~, trong khi người Bắc phân biệt chúng rõ ràng). Vì thế, ngược
lại, khi nghe tiếng Anh, cần phải nghe toàn bộ âm điệu để nắm bắt những
tình cảm bên dưới câu nói.
Nghe với cả giai điệu, mình sẽ hiểu
(và sau này sẽ dùng) những câu hay thành ngữ một cách chính xác như
người bản ngữ, mà không cần phải dịch ra. Ví dụ: các câu ngắn như: Oh my
God! Look at this! Hoặc No way! Hoặc You're joking/kidding! Với giọng
điệu khác nhau, những câu nói hằng ngày đó có thể được hiểu là một tiếng
khen hay chê, thán phục hay thất vọng, bằng lòng hay bất bình, chấp
thuận hay từ chối!
Và từ đó, mình sẽ biết đối xử khi dùng tiếng
Anh cho đúng nghĩa, chứ không chỉ đúng văn phạm. Ví dụ, khi tiếp một
nhân vật quan trọng đến công ty bạn, bạn chuẩn bị nói một câu mời rất
trân trọng và đúng nghi thức (formal): Would you please take a seat? Thế
nhưng bạn căng thẳng đến độ nói theo một âm điệu nào đó khiến người kia
bực mình với bạn (mà bạn không hề biết), vì ngỡ rằng bạn diễu cợt người
ta! Thế là hỏng cả một cuộc đàm phán. Thà rằng bạn nói đơn sơ: Sit
down! Với một giọng hòa nhã, thái độ tôn trọng, cử chỉ lịch thiệp và nụ
cười nồng hậu, thì không ai lầm bạn! Trái lại, nói câu rất formal trên
kia, với thái độ căng thẳng và giọng nói cộc lốc (vì sợ nói sai!), thì
tai hại hơn nhiều.
4. NGHE VỚI NHỮNG GÌ MỘT TỪ BAO HÀM:
Ngôn ngữ dùng để truyền tin, nhưng đồng thời cũng truyền cảm. Vì thế,
mỗi danh từ vừa chỉ định một cái gì cụ thể (denotation), vừa kèm theo
một tình cảm (connotation). Các từ this gentleman, this man, this guy,
this rascal đều có một denotation như nhau là một người nam nào đó,
nhưng connotation thì hoàn toàn khác; cũng như đối với một người nữ nào
đó ta có thể dùng: a lady, a woman, a girl, a whore. Cùng một từ như
communism chẳng hạn. Đối với một đảng viên đảng Cộng Sản hay một cảm
tình viên, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều dịu dàng cao đẹp, còn đối
với người chống cộng, thì từ ấy gợi lên bao nhiêu điều xấu xa, độc ác!
Trong khi denotation của nó chỉ là một triết thuyết như trăm ngàn thuyết
thuyết khác, mà dù thích dù không, người ta cũng phải dùng để chỉ định
triết thuyết do Karl Marx đề ra! Từ đó, câu nói 'You're a communist!' có
thể là một lời khen nồng ấm hoặc là một lời chỉ trích thậm tệ, tùy theo
connotation của nó.
Khi học tiếng Anh, muốn nâng cao vốn từ
vựng thì ta cố học nhiều từ đồng nghĩa (synonyms). Thế nhưng, không bao
giờ có synonyms đích thực cả: chỉ tương đương trong denotation chứ
connotation hoàn toàn khác (và cũng vì thế mà không bao giờ có hai từ
hoàn toàn có nghĩa giống nhau ở hai ngôn ngữ khác nhau: father/mother
không hoàn toàn là cha/mẹ - và daddy/mummy không hoàn toàn là ba/má; vì
tình cảm đính kèm với các từ ấy khác hẳn giữa người Việt và người Anh).
"Nghe" tiếng Anh, chính là biết nghe những connotations trong các thuật
ngữ mình nghe.
Cho đến nay, tôi chỉ đề nghị các bạn nghe tin
tức. Nhưng đó là giai đoạn nghe để quen với các âm. Trong giai đoạn
‘nghe’ tiếng Anh này, phải bớt giờ nghe tin tức mà xem phóng sự hoặc các
phim truyện. Trên thế giới, các speakers của các chương trình tin tức
buộc phải nói với thái độ neutral, nghĩa là không được dùng từ kèm theo
tình cảm, và không được xử lý âm điệu để bộc lộ tình cảm của mình, vì
thế họ nói rất dễ nghe, nhưng chỉ nghe tin tức thôi thì ta bỏ sót một
phần khá chủ yếu trong tiếng Anh.
(Trái lại xướng ngôn viên
Việt Nam nhiều khi chưa làm chủ được tình cảm mình trong quá trình đọc
một bản tin, và người ta thấy ngay là xướng ngôn viên vui mừng hay bực
tức, tán đồng hay bất đồng, với nội dung bản tin mình đọc. Còn người
viết bản tin thì dùng những từ có connotation: ví dụ trước kia, khi nói
đến một tổng thống Mỹ thì bao giờ cũng là ‘tên Kennedy’ hoặc ‘tên tổng
thống Kennedy’. Còn hiện nay thì ‘Ngài tổng thống Bush’, mà ít khi nói
một cách trung lập: Tổng Thống G. Bush. Trong khi đó, hầu như không bao
giờ nghe trong một bản tin: ‘Cố chủ tịch Hồ Chí Minh’, mà lúc nào cũng
là ‘Bác Hồ’. Thuật ngữ ‘Bác Hồ’ mặc nhiện tiềm ẩn một tình yêu thương và
kính trọng đến độ cụm từ ‘cố chủ tịch Hồ Chí Minh’, vốn là một cụm từ
neutral, lại trở thành một cụm từ ‘thất kính, xem thường’ đối với ‘Chủ
tịch Hồ Chí Minh’!)
5. NGHE BẰNG TRÁI TIM ĐỂ CẢM ĐIỀU HỌ CẢM:
Và cuối cùng, đối với các bạn muốn đi thật sâu vào tiếng Anh, thì có
thể phối hợp tất cả các kỹ năng để hiểu những điều tiềm tàng bên dưới
ngôn ngữ giao tiếp; và điều này hướng đến cách nghe văn học. Mọi ngôn
ngữ đều gợi lên một cái gì đó vượt lên trên từ ngữ. Vì thế, thi ca là
một ngôn ngữ đặc biệt. Người Việt nào, dù thích hay không thích, vẫn cảm
được ngôn ngữ của thi ca. Do đó, muốn nâng cao kỹ năng ‘nghe’ tiếng Anh
của mình thì cần tập nghe những bài thơ. Cho đến nay, khó tìm những bài
thơ audio, nhưng không phải là không có. Tập nghe đọc thơ, dần dần,
chúng ta sẽ cảm được cái tinh túy của tiếng Anh, từ đó ta cảm được vì
sao cùng một tư tưởng mà diễn đạt cách này thì 'hay' hơn cách kia. Bấy
giờ ta mới có quyền nói: tôi đã ‘nghe’ được tiếng Anh.
Ví dụ, khi muốn người ta cảm nhận tiếng gió mùa thu, thì Xuân Diệu đã sử dụng âm ‘r’ trong bài “Đây Mùa Thu Tới”:
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Tương tự như vậy Robert L. Stevenson viết trong The Wind
I saw you toss the kites on high
And blow the birds about the sky;
And all around I heard you pass,
Like ladies’ skirts across the grass..
Tác giả đã làm cho ta cảm được làn gió hiu hiu với các âm ‘r’ và ‘s’
nối tiếp và quyện vào nhau trong câu cuối, kèm với hình ảnh độc đáo của
váy các mệnh phụ lướt qua trên cỏ (điều mà người Việt Nam hoàn toàn
không có kinh nghiệm, vì mọi nét yêu kiều đều gắn liền với tà áo dài).
KẾT LUẬN:
Tôi đã bắt đầu gợi ý nghe tiếng Anh để rồi đi đến vấn đề ‘nghe’ tiếng
Anh. Tuy nhiên, tôi lặp lại, những gì tôi nói chỉ là lý thuyết, và không
có lý thuyết nào có thế làm cho bạn nghe được tiếng Anh. Cách duy nhất
ấy là bạn phải tự mình nghe và rút ra những phương pháp thích hợp với xu
hướng, kinh nghiệm và sở thích của mình.
Qua loạt bài này,
tôi luôn đả phá cách nghe dựa trên viết và dịch. Thế nhưng, những điều
tôi cho là trở ngại, nhiều khi lại có ích cho bạn, vì những thứ ấy không
cản trở mà còn giúp bạn những cột móc để bám vào. Vâng. Nếu các bạn
thấy việc đọc script, hoặc học từ vựng, hoặc viết thành câu và tra từ
điển - như vẫn làm từ trước đến nay - giúp cho bạn nghe và hiểu nhanh
hơn thì cứ sử dụng phương pháp của mình. Tôi chỉ nhắc lại một điều này:
Tất cả những trợ giúp đó cũng giống như chiếc phao cho người tập bơi.
Khi tập bơi, nhiều người cần có một cái phao để bám vào cho dễ nổi, từ
đó bạo dạn xuống nước mà tập bơi. Và không ít người bơi giỏi đã khởi sự
như thế. Bạn cũng vậy, có thể những cách nghe từ trước đến giờ (nhìn
script - học từ - kiểm tra văn phạm) giúp bạn những cột chắc chắn để bám
vào mà nghe. Vậy thì xin nhớ rằng: Chiếc phao giúp cho bạn nổi, nhưng
không giúp cho bạn biết bơi. Đến một giai đoạn nào đó, chính chiếc phao
lại cản trở bạn và không cho bạn bơi thoải mái.
Hãy vứt cái phao sớm chừng nào hay chừng nấy, nếu không nó trở thành một trở ngại cho bạn khi bạn muốn bơi nhanh và xa.
Hãy vứt những chữ viết khi nghe nói, nhanh chừng nào hay chừng ấy, nếu
không chúng sẽ cản trở bạn và bạn không bao giờ thực sự 'nghe' được
tiếng Anh!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét