Thứ Tư, 20 tháng 8, 2014

TẬP THỞ- CÁCH CHĂM SÓC SỨC KHỎE TUYỆT VỜI NHẤT

Đầu Xuân - Biết Thở để sống Thọ Nguyễn Nguyên Phượng

TẢN MẠN ĐẦU XUÂN:

                 
  (Từ bài gởi của anh Lê Hữu Hiệp…)
         MỘT.
        Năm tàn cho ngày mới đến. Ánh xuân tràn mê. Người và muôn hoa mỡn mộng đương thì… Quy luật đời quay vòng quay ai cản ngăn.Tình xuân vẫn ngất ngất dâng trước những đôi bướm trắng vờn hoa. Xuân rộn bay theo … Một buổi mai tinh khôi bất chợt, nhà thơ Trần Nhân Tông (1258-1308) dậy hồn thơ cùng sớm xuân với bài thơ “Xuân hiểu”(Buổi sớm mùa xuân):
                                Thủy khởi khởi song phi
                                Bất tri xuân dĩ quy
                                Nhất song bạch hồ điệp
                                Phách phách sấn hoa phi.
                                (Ngủ dậy tung song cửa
                                 Nào hay xuân đã sang
                                 Một đôi bướm bướm trắng
                                 Gặp hoa, cánh vội vàng)
Đời người trăm năm. Bao lời chúc nồng nàn đều nhận cả. An Khang. Phương Phúc. Lộc về. Thi phú thăng hoa. Thêm năm, thêm tuổi …Bến ngũ niên, lục tuần có hẹn chờ đâu… Vậy mà dẫu có chậm bước, lãng chân rồi ai cũng đến. Bởi quy luật tự nhiên là Thiên địa bất nhân, không thiên vị một ai. Bài kệ của Mãn Giác Thiền Sư (1052-1096) cách đây 10 thế kỉ trước trong phút lâm chung trực diện với cái chết đọc trước chúng tăng, đệ tử đã liễu thành về lẽ tử sinh, câu hỏi đau đáu của mỗi phận người ở chốn tục phàm. Bài “Cáo tật thị chúng(Cáo bệnh dạy đệ tử) ở góc độ văn chương đã trở thành một tuyệt phẩm thi ca bất hủ trên thi đàn dân tộc xưa và nay.
Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thư­ợng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
(Xuân qua, trăm hoa rụng

Xuân tới, trăm hoa cư­ời

Trư­ớc mắt: việc đi mãi

Trên đầu: già đến rồi

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân tr­ước một nhành mai)
     “Đêm qua sân trước một nhành mai”!  Vâng, nhành mai tâm hồn – tươi thắm lạc quan tràn xuân – nhành mai bất diệt! Như một nhà sư từng nói: “Đối mặt trước cái chết, điều khôn ngoan duy nhất mà con người có thể làm được là vui lòng chấp nhận nó ". Bạn cũ gặp lại những ngày cuối năm, không bạc trắng đầu cũng tóc pha sương mà “muối nhiều hơn tiêu”. “Bạc tóc nhìn nhau tóc bạc thương”, hãy “vui lòng chấp nhận nó”. Một bạn ở xa gởi cho mấy bài thuốc để di dưỡng tinh thần, sức khỏe theo điệu tình tri kỉ “tình thương mến thương”.
      HAI.
        Những bài thuốc như rượu xuân bạn mời thưởng thức, làm theo. Xem qua các bài: “Tình trạng sút giảm trí nhớ” (BS Lương Lễ Hoàng) hay “Bí quyết sống lâu trăm tuổi không lẫn” của Tùng Đan trên Dân trí…đều thuộc lĩnh vực Y  học, sức khỏe mở mạng quá dễ tìm. Tuy nhiên chúng vẫn còn trong chiều hướng luôn phải nghiên cứu bổ sung. Người thực hành cũng cần cân phân khi thực hiện…Tôi lại tâm đắc với với bài viết mà nhan đề giản đơn “Sống thêm 50 năm nhờ tập… thở”.
       Đọc kỹ nhiều lần, tôi cho đây là một bài  “Tân kệ”  lý thú, giàu triết lí về sống – thở mà bấy lâu nay mà các huynh “lão”/ sắp lên lão lấy làm “kinh nhật tụng”. BS Nguyễn Khắc Viện ( 1913 – 1997) chính là  tác giả sáng tạo bài Đông Tây tân dược kéo dài tuổi thọ này.
       Năm 1942, BS Viện bị lao phổi nặng, điều trị ở Bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble. Sáu năm ( 1943 đến 1948), ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Những bác sĩ Pháp cho ông biết chỉ có thể sống được hai năm nữa! Thế mà ông sáng tạo và nghiệm dụng kéo dài cuộc sống đến 85 tuôi, kéo dài sự sống đến 50 năm!  Nửa thế kỉ đời người nhờ vào phương pháp thở. BS Viện cũng là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Từng là cố vấn của bộ môn tâm lý - xã hội học, tại Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế TP HCM, (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch).
      Bài tân kệ - phương pháp thở đó nôm na như một bài vè 12 câu:
                                 Hót bụng thở ra,

                                 Phình bụng thở vào.

                                 Hai vai bất động,

                                 Chân tay thả lỏng.

                                 Êm chậm sâu đều,

                                 Tập trung theo dõi,

                                 Luồng ra luồng vào,

                                 Bình thường qua mũi,

                                 Khi gấp qua mồm.

                                 Đứng ngồi hay nằm,

                                 Ở đâu cũng được,

                                 Lúc nào cũng được!
     Thắng bản thân mình là cuộc chiến đấu gian nan nhất! BS Viện trong những ngày nằm trên giường bệnh chờ chết đã tìm ra sự sống bằng cách biết thở.  Giới Y học tìm hiểu, điểm mới của phương pháp thở này là sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh... của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc Tây Y. Chính BS - nhà văn, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc đã áp dụng chữa bệnh cho mình nhận xét:  "Trước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Rồi một lần tôi bị tai biến nặng, phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu!" *
         BA.
     Nhà thơ Xuân Diệu từng viết về yếu tố sống của khí trời, hơi thở trong bài “Nhị hồ”: “Khí trời quanh tôi làm bằng tơ/ Khí trời quanh tôi làm bằng thơ…”. Còn thở tất còn sống! (không kể các bậc thượng thừa tập khí công, thiền, yoga). Còn thêm tuổi thọ để mà yêu đời và làm được một chút gì đó cho Đời, cho Người thì hãy  tập - biết thở bằng bụng *  như BS Viện. “Cây đời mãi mãi xanh tươi” (Goethe) sao mà không yêu đắm mê mệt, say nồng nàn. Ngày xuân bừng tràn sức sống, nhựa tơ nõn tình…đâu đâu cũng đáng yêu. Yêu cả lời trêu đùa của người trẻ khi biết nhiều lão tác gia cầm bút làm thơ, dựng văn. Mực các bác còn không mà ham thích Người đẹp văn chương?  Đúng là tuổi trẻ! Người già cũng chẳng ngại bông phèng theo:

                            Sáu mươi sao gọi là già
                      Tình yêu thi phú vẫn là thanh niên!
             
                          Già thì già tóc già râu
                   Trái tim bổi hổi…Còn lâu mới già!
       Cũng với “trái tim bổi hổi” mà nhà thơ Lò Ngân Sủn (1945- 2013) đã gởi đến đời bài thơ “Người đẹp”(Tạp chí VH các DTTSVN tháng 11/ 2011) làm nhiều nhà thơ trẻ đương đại ngẩn ngơ trước “một cuộc vui đùa lộng lẫy” (Đỗ Trọng Khơi)..
                               Người đẹp trông như tuyết
                              Chạm vào lại thấy nóng

                              Người đẹp trông như lửa

                             Sờ vào lại thấy mát

                            Người không khát - Nhìn thấy người đẹp cũng khát

                            Người không đói - Nhìn thấy người đẹp cũng đói

                           Người muốn chết - Gặp người đẹp lại không muốn chết nữa

                             Ơ!
                            Người đẹp là ước mơ


                           Treo trước mắt mọi người!   
         Nhưng nếu đem so với mối tình tri âm của cụ Nguyễn Trãi với nàng Thị Lộ đang độ “ trăng tròn lẻ” vẫn còn kém xa! Cả Uy Viễn Tướng Công Nguyễn Công Trứ, người đời sau vẫn nhắc giai thoại câu trả lời lộng trào phong tình lai láng trong đêm động phòng với hầu thiếp mới vừa tròn hai mươi xuân, “ngũ thập niên tiền nhị thập tam” (năm mươi năm trước hai mươi ba tuổi)
          Hãy tập thở, biết thở bằng bụng theo bài vè 12 câu của BS Viện (tập luyện ít nhất sáu tháng mới có hiệu quả) để tuổi thọ thêm dài, thêm lâu. Để sống tận cùng với Đời với ý nghĩa đích thật nhất “Sống đến tận cùng đâu phải chuyện chơi” (Boris Pasternak). Đúng vậy, sẽ không là chuyện chơi khi ta sống, biết thở cùng với nhành mai tâm hồn – tươi thắm lạc quan tràn xuân của Mãn Giác Thiền Sư:
      Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

     Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
    (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

    Đêm qua sân tr­ước một nhành mai)
                                           Lập xuân - 2014
                               

* Bài tham khảo:  Sống thêm 50 năm nhờ tập... thở - BS Đỗ Hồng Ngọc, báo SGTT

      Phương pháp thở bằng bụng:

 “…Sự hô hấp xảy ra trên từng tế bào của cơ thể chớ không phải ở hai lá phổi. Phổi thực chất là một cái bơm, bơm khí vào ra “phình xẹp” vậy thôi. Để cho cái máy bơm đó làm việc tốt thì cần biết một chút về “cơ chế” của nó. Lồng ngực là cái xy-lanh (cylindre), còn píttông (piston) chính là cơ hoành - một bắp cơ lớn, nằm vắt ngang giữa bụng và ngực. Khi cơ hoành thụt lên thụt xuống (như cái bể lò rèn) thì khí được hút vào đẩy ra ở phổi. Cơ hoành nhích lên nhích xuống 1cm đã hút hoặc đẩy được 250ml không khí. Vậy mà cơ hoành có thể nhích lên xuống đến 7cm! Tóm lại, chính cơ hoành ở bụng mới là cơ hô hấp chính, đảm trách hơn 80% sự thông khí. Do đó, thở bụng là cách thở sinh lý nhất, tự nhiên nhất. Cho nên trong bài vè tập thở ta thấy nói “thót bụng”, “phình bụng” – mà không hề nói đến ngực chút nào là vậy! Cứ quan sát một bé đang ngủ ngon lành thì biết. Nó thở bằng bụng chớ không phải thở bằng ngực. Chỉ có cái bụng nó là phình lên xẹp xuống, đều đều, nhẹ nhàng mà thôi.

Bác sĩ Dean Ornish, tác giả cuốn sách nổi tiếng Program for reversing heart disease (Chương trình phục hồi bệnh tim) hướng dẫn cách thở bụng đơn giản, dễ làm: đặt một bàn tay lên bụng, khi thở vào thở ra, ta thấy bàn tay mình nhích lên nhích xuống nhịp nhàng là được.

Ngày nay, ở phương Tây, rất nhiều trung tâm dạy thiền, khí công, yoga... để chữa bệnh cũng chủ yếu là dạy cách thở bụng. Các phương pháp trị liệu nổi tiếng của các bác sĩ như Dean Ornish, Deepak Chopra... căn bản cũng không ngoài cách... thở bụng. Phương pháp thở bụng không chỉ giúp để chữa một số bệnh tim mạch, hô hấp, tiêu hoá... mà còn làm cho tâm được an, giảm stress trong cuộc sống hiện tại. Phải luyện tập chừng sáu tháng trở lên mới thành thói quen và thấy hiệu quả.”

Nguyễn Nguyên Phượng

TẢN VĂN CỦA LÊ KHẮC THANH HOÀI

Học văn chương Việt, mấy ai mà không thuộc Xuân Diệu :
                                    Xuân đang tới nghĩa là xuân đang qua
                                    Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
                                    Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất.(8)
Cụ Cao Bá Quát thì than :
                                    Ba vạn sáu ngàn ngày có là bao ! (9)
Cụ Nguyễn Du thật cảm động, chân tình khi gặp lại người xưa :
                  Trăm năm thấm thoát có là bao
                  Cảm thương việc cũ, nước mắt thấm áo
                  Tôi từ Nam Hà trở lại, đầu bạc trắng hết
                  Không trách nhan sắc người đẹp suy tàn ! (10)
Và ngậm ngùi rung động với bốn mùa phù du, tuần tự vùn vụt trôi qua :
 Cảnh đẹp bốn mùa không được mấy ngày
 Thời gian vun vút như thoi đưa, gọi không trở lại
 Ngàn dặm, thân trơ trọi, ở đất khách lâu ngày
 Một sân lá vàng đưa thu đến
 Gió tây lay động bức rèm buông trước gác nhỏ
  Ở xóm hẻo lánh, tuyết xuống mịt mù, tiếng tù và buổi mai nghe buồn thảm
  Bùi ngùi nỗi thời gian làm cho tóc chóng bạc
  Suốt đời mối u sầu chưa hề gỡ ra. (11)
Để nói đến thời gian cụ Nguyễn Du thường hay nhắc đến cái đầu tóc bạc của mình :
 Già rồi, làn tóc bạc nầy trông mà đáng thương (12)
                                    …
                                    Giữa bãi cát, càng trông rõ mái đầu bạc
                                    Ngoài biển, nghe chim hồng lìa đàn kêu
                                    Bạn bè thân thích đứng ở bến nhìn theo
                                    Vì ta mà nước mắt ướt khăn. (13)
Chúng ta cũng tìm thấy hình ảnh của thời gian qua mái tóc bạc trong nhạc của Trịnh Công Sơn :
                                    Bao nhiêu năm làm kiếp con người
                                    Chợt một chiều tóc trắng như vôi…(14)
Hàn Mặc Tử khẩn cầu thời gian :
                                    Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
                                    Xin đừng luân chuyển để thời gian
                                    Chậm đi, cho kẻ tôi yêu dấu
                                    Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân. (15)
Và muốn sống hạnh phúc thì cố làm lơ :
                                    Cố làm lơ không biết đến thời gian
                                    Đến bông hoa tàn tạ với trăng ngàn (16 )

Thời gian là cái chi chi ? Không ai không chán ngán, không thở than khi thấy dấu vết thời gian qua mái đầu bạc, qua nhan sắc tàn tạ, nhất là của phụ nữ, phái đẹp, và qua mọi sự việc ở đời, mới sẽ trở thành cũ, môt ngày vui rồi cũng hết, mùa xuân hoa nở muôn màu rồi cũng sẽ rụng sẽ tàn, hoa quả đang tươi đang xanh rồi cũng héo cũng úa…Còn lại chăng là một tiếng thở dài não nuột !

Bởi lẽ thời gian là cái mà con người không làm chủ được, vượt ngoài tầm kiểm soát của mình, con người chỉ biết tuân theo tiếng gọi của thời gian, con người bất mãn và đau khổ.
Không gian là cái dung chứa, dung nạp, bảo bọc. Không gian thì Tĩnh, nhưng ngược lại, thời gian là Động, đặc tính của nó là luân lưu, chuyển đổi, xê dịch, là cuốn đi, là trôi chảy.
Không gian ví như Lòng Mẹ, bao dung, rộng lượng, ôm ấp, che chở. Thời gian ví như bàn tay cứng rắn của Cha, xô đẩy tới trước, bắt buộc phải mạnh dạn, độc lập bước đi và chống chọi với thử thách, gian truân. Không có thời gian thì sẽ không có chuyện gì xảy ra cả ! Đứa con cứ ở yên trong lòng mẹ thì không bao giờ trở thành người lớn được. Phải ra khỏi lòng mẹ và chống chọi với thời gian, học những bài học với thời gian, khổ đau cũng như hạnh phúc, thất bại cũng như thành công…Tất cả những bài học mà thời gian dạy cho con người đều có giá trị. Có thể con người chưa hiểu hết mà thôi…
 
Các nhà khoa học ngày đêm tìm tòi liều thuốc trường sinh bất tử để cắt ngang dây chuỗi Sinh Thành mà không có Hoại Diệt. Làm được chăng ? Cứ chờ cứ đợi. Nhưng có lẽ chúng ta đã đi qua bên kia thế giới từ lâu rồi…
Hãy suy nghĩ lại, thời gian cũng không ác lắm đâu : người già yếu bịnh hoạn đôi lúc cũng chỉ cầu xin thời gian ơi đem tôi đi nhanh !
Người đang ở trong tù chỉ cầu mong thời gian qua mau để ra khỏi nhà tù, người suốt đêm không ngủ chỉ mong trời mau sáng ! Người đang hẹn hò với tình nhân thì đếm từng giây từng phút mong cho đến giờ hẹn ! Và khi môi đã kề môi thì « thời gian ơi xin ngừng trôi » !

Thật ra thì chúng ta chẳng hề thấy mặt mày diện mạo của thời gian ra sao cả. Thời gian ở đâu ? Trong hư không ? Trên núi cao chót vót ? Dưới biển sâu thăm thẳm ? Trong đầu ta ? Trong tim ta ?
Chúng ta chỉ thấy thời gian hiện diện qua bốn giai đoạn của sinh thành hoại diệt. Hết xuân đến hạ, hết thu đến đông, hết hoa mai đến hoa phượng, hết lá xanh đến lá vàng…Hết trẻ con đến người lớn, hết người lớn đến người già, hết già thì chết. Chết là hết. Là biến mất. Là tiêu tan. Chúng ta gọi cái biến dịch, chuyển thay này là thời gian.

Đứng một chỗ và cất chân bước đi một bước, hai bưóc, ba bước, mười bước, một thước, mười thước…Từ nhà chúng ta đi ra chợ, từ chợ chúng ta đi ra trường học…chúng ta xem đồng hồ báo cho biết đi như vậy là mất ba mươi phút. Chúng ta gọi đó là thời gian. Thời gian được ấn định bởi cái kim đồng hồ. Thời gian xem như cùng song hành với động tác bước đi của đôi chân.

Một vị thiền sư ngồi nhắm mắt bất động trong hang tối, một năm, mười năm, ngồi cho đến chết, thân xác rã rời. Thời gian có trôi qua với vị thiền sư này không ? Chúng ta trả lời chắc chắn là có rồi. Thời gian được biểu hiện nơi thân xác rã rời nhưng không biểu hiện qua nơi các động tác của tay chân. Vì thiền sư ngồi bất động nhưng vẫn còn động ở chỗ còn hơi thở vào ra.  Còn động là còn có thời gian. Như vậy có thể nói chính xác rằng thời gian không khác với vô thường. Thời gian là sự biến dịch, là sự chuyển động luân lưu không hề chấm dứt, điều tất yếu kéo theo sau là sự hoại diệt. Không tìm thấy trên cõi đời này vật gì mà không thể bị hủy hoại cho dù đó là vàng hay kim cương đi chăng nữa.

Không những ở nơi sự vật mà ngay cả những gì không thuộc phần vật chất mà thuộc phần tâm linh, tâm lý cũng chịu sự thay đổi, biến hóa với thời gian. Hôm nay là bạn, mai thành kẻ thù, hay ngược lại. Hôm nay hoan hô ngày mai đả đảo. Yêu ai tha thiết, quên ăn bỏ ngủ, ngày đêm tương tư, cưới về rồi thì…chán!

Có thời gian vật lý thì cũng có thời gian tâm lý. Chờ người yêu ba tiếng đồng hồ trong mưa gió lạnh lùng thì kiên nhẫn chịu được, nhưng chờ xe buýt ba phút đã thấy quá lâu. Nghe một bản nhạc hay chỉ hai phút mà thấy quá nhanh, và cũng hai phút, nghe một bản nhạc mình không thích thì thấy quá dài lê thê. Hình như ở đây chúng ta bắt đầu chạm tới thuyết tương đối của Einstein rồi ?

Thời gian trôi như nước của dòng sông, do đó mà nói dòng thời gian, cũng nói lên được cái mong manh, khó nắm bắt, khó giữ, của mọi sự trên đời. Thời gian dường như cũng chỉ đi có một chiều. Cái gì đang là, đang có thì chỉ cần một tích tắc sau là trở thành cái đã là, đã có, nhường chỗ cho cái gì sẽ là, sẽ có. Và cái gì « sẽ » thì cũng bị đẩy lùi đằng sau để trở thành « đã » thuộc về quá khứ. Chính điều này làm cho con người đau khổ nhất. Con người chỉ còn bám víu vào hoài niệm. Suốt cuộc đời là một nỗi nhớ nhung khôn nguôi. Một khi mà con người chưa thoát ra được vòng tay xiết chặt của thời gian thì con người chỉ còn biết bám vào cái phao của ký ức.

Thi sĩ Bùi Giáng chỉ nói nhẹ nhàng, giản dị mà nghe qua đã thấy chạnh lòng :
                                                Một phút nữa thôi
                                                Và màu sẽ mất
                                                Suối sẽ xa đồi
                                                Như mây xa đất (17)
Xuân Diệu chỉ ao ước :
                                                Tôi muốn tắt nắng đi
                                                Cho màu đừng nhạt mất
                                                Tôi muốn buộc gió lại
                                                Cho hương đừng bay đi (18)
Nhưng rồi cũng chỉ là một ao ước.

Con người phải làm gì để hạnh phúc khi cả cuộc đời phải chịu áp lực của thời gian ? Không thiếu câu trả lời của triết gia, hiền nhân, tôn giáo, học thuyết. Chỉ cần biết chọn lựa. Dù không làm chủ được thời gian, ít nhất cũng làm chủ chính mình với sự lựa chọn đúng !
 

Chú thích :
  1. Le Lac, Lamartine
  2. Rondeau, Charles d’Orléans
  3.  A Hélène, Ronsard
  4. L’horloge, Beaudelaire
  5. L’ennemi, Beaudelaire
  6. Chansons d’automne, Verlaine
  7. Avec le temps, Léo Ferré
  8. Vội Vàng, Xuân Diệu
  9. Uống rượu tiêu sầu, Cao Bá Quát
1O. Long Thành Cầm Giả Ca, Nguyễn Du
11.    Thu Chí, Nguyễn Du
12.     Thu Dạ, Nguyễn Du
13.     Độ Long Vĩ Giang, Nguyễn Du
14.    Cát Bụi, Trịnh Công Sơn
15.     Thời Gian, Hàn Mặc Tử
16.     Đôi Ta, Hàn Mặc Tử
17.     Màu Thanh Thiên Nở, Bùi Giáng
18.     Vội Vàng, Xuân Diệu
 

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

THAM KHẢO BÀI VIẾT TRÊN DIỄN ĐÀN LUẬT SƯ- LS NGÔ NGỌC TRAI

Ở Việt Nam quyền tư pháp yếu hơn nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp.
Trong buổi tọa đàm giữa Đoàn luật sư Hà Nội và Đoàn luật sư thành phố Paris của Pháp, cử tọa đã hết sức thán phục khi được biết Đoàn luật sư Paris có lịch sử đã 800 năm.
Hãy hình dung, khi mà vua quan quân lính nhà Trần còn đang rong ruổi thanh gươm yên ngựa để chống giặc, thì ở thủ đô Paris của nước Pháp, đã có những người mặc áo choàng đứng ở phiên tòa mà biện hộ cho người bị cáo.
Tức là khi ở Việt Nam sự sống còn của quốc gia dân tộc còn chưa được đảm bảo chứ đừng nói gì đến quyền của kẻ tội nhân ở chốn công đường, thì ở nước Pháp đã hình thành nên một thiết chế mà sự đúng đắn là bệ đỡ đã giúp nó tồn tại cho tới tận ngày nay.

Vai trò thủ lĩnh

Suốt lịch sử 800 năm hẳn những người luật sư của Paris đã đối diện với biết bao biến động thời cuộc. Để có thể vượt qua được mọi sóng gió như thế, hẳn phải có nhiều nguồn sức mạnh trụ đỡ.
Một nguồn sức mạnh cho nghề luật sư đó là nghề nghiệp này mang tính chính đáng nghĩa hiệp, phù hợp với luân thường đạo lý con người khi một người đứng ra bảo vệ cho kẻ yếu trước một sức mạnh áp đảo là cường quyền.
Nhưng chỉ sức mạnh từ luân lý sẽ không đủ để đoàn luật sư Pari tồn tại được cho tới ngày nay. Mà nó còn được dẫn dắt bởi những thế hệ người thủ lĩnh đoàn với đầy đủ tư cách đạo đức và sự uyên bác về trí tuệ.
"... hệ thống chính trị không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp."
Những thế hệ người thủ lĩnh chắc chắn phải nhận được sự tín nhiệm của các thành viên, được sự kính nể của cơ quan tư pháp đương quyền, có như thế tiếng nói và hành động mới có trọng lượng và sức thuyết phục.
Ví như các vị vua đời đầu của nhà Trần hoặc vị anh hùng Trần Hưng Đạo, hẳn là phải có kiến thức hiểu biết và phong độ uy tín như thế nào mới có thể điều binh khiển tướng chống giặc ngoại xâm ba lần thành công.
Trong bất kỳ một tổ chức nào, vai trò của người thủ lĩnh đều rất quan trọng, kinh nghiệm kiến thức của họ sẽ quyết định con đường mà tổ chức sẽ đi. Nhưng đặc biệt trong giới luật sư, khi thước đo nghề nghiệp là uy tín thương hiệu thì người đứng đầu càng phải là người có uy tín và danh dự nhất.
Cũng chỉ đặc biệt ở nghề luật sư, sự thành công là ở khả năng thuyết phục của lời nói, như thế thì điều tối kỵ là danh bất chính vì nếu thế thì ngôn sẽ bất thuận. Không có uy tín, không được tín nhiệm thì nói ai người ta nghe?

Sự áp đặt vô lý

Thấy được bề dày lịch sử của đoàn luật sư Paris như vậy, nhìn lại giới luật sư Việt Nam mà thấy buồn.
Nghề luật sư ở Việt Nam thực sự mới hoạt động từ vài ba chục năm nay, số lượng luật sư cả nước tính đến nay chỉ khoảng 8.000, con số rất nhỏ so với các hội đoàn khác, ví như hội luật gia số thành viên là 46.000.



Luât sư Venezuela tập trung phản đối chính phủ


Giới luật sư cũng chưa tạo dựng được hình ảnh đáng trân trọng trong xã hội. Nguyên do một phần vì hệ thống chính trị không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp, trong khung cảnh đó giới luật sư chịu chung số phận hẩm hiu.
Một nguyên nhân khác là sự yếu kém nội tại của giới luật sư mà chỉ người trong nghề mới hiểu, nhiều người thờ ơ vô trách nhiệm, không có bản lĩnh chính kiến trước các vấn đề của tổ chức, không có tinh thần dấn thân cho nghề nghiệp.
Thời điểm năm 2009 khi Liên đoàn Luật sư Việt Nam được thành lập, chính quyền đã sắp đặt để những người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư lại đứng đầu tổ chức luật sư cả nước. Những người chưa hề có uy tín nghề nghiệp lại đứng trên cả những luật sư với thâm niêm mấy chục năm hành nghề.
Đứng đầu tổ chức luật sư nguyên là một phó chánh án tòa án tối cao, một người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư. Cấp phó thường trực của ông này là một vị nguyên là vụ trưởng một vụ của Bộ Tư pháp, một người cũng hầu như chưa hề hành nghề luật sư.
Có thể họ tuy không hành nghề những cũng biết về nghề luật sư, nhưng biết với trải nghiệm là hoàn toàn khác nhau.
Những người chưa từng đổ một giọt mồ hôi lên các trang hồ sơ tài liệu và chưa từng khóc thầm vì những trái ngang của cơ chế, họ làm sao thấu hiểu những vấn đề của nghề luật sư?
Những người vì đã đến tuổi nghỉ hưu nên phải thôi chức ở cơ quan nhà nước, rồi lại được cơ cấu sang đứng đầu một tổ chức khác, thì lấy đâu ra nhiệt huyết cống hiến của những con người này.
Không sống bằng thu nhập nghề nghiệp, đã có nguồn thu nhập khác, hy vọng gì họ sẽ trăn trở thao thức để vạch đường tìm lối cho nghề luật sư phát triển?
Việc áp đặt nhân sự không chính đáng đã phạm phải vấn đề húy kỵ nhất của nền tư pháp đó là sức mạnh thuộc về công lý và chính nghĩa chứ không thuộc về cường quyền.
Xuất phát từ đâu mà chính quyền lại áp đặt lối nhân sự như vậy. Phải chăng đó là thâm ý của chính quyền, áp đặt nhân sự kém năng lực để kìm hãm giới luật sư trong trì trệ, níu giữ nền tư pháp nước nhà trong lạc hậu?

Còn nhiều khó khăn

Đứng trước sự áp đặt ngang trái như vậy nhưng hầu hết giới luật sư đều im lặng, cũng có vài người không đồng tình nhưng cuối cùng cũng cam chịu chấp nhận.
Chính quyền đã thiếu tôn trọng giới luật sư, người luật sư cũng vô trách nhiệm với tổ chức của mình, không biết cái nào là nguyên nhân của cái nào.
Tựu chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật sư còn bảo vệ được cho ai?



Các luật sư Hong Kong tuần hành để bảo vệ quyền lợi của họ, còn Việt Nam thì sao?


Bao nhiêu tổ chức hội đoàn trong xã hội có lúc họ cần được bảo vệ quyền lợi, nhưng hẳn họ sẽ nghĩ là mấy người đó còn chẳng làm được gì ra hồn cho tổ chức của họ, sao bảo vệ được cho chúng ta?
Nhìn vào chính cách hành xử của giới luật sư, xã hội sẽ dành cho mức độ tín nhiệm tương xứng.
Người dân không nghĩ đến luật sư đầu tiên khi gặp vướng mắc, họ sẽ tự giải quyết lấy bằng cách nhờ vả người quen hay lo lót cán bộ chính quyền. Chỉ khi sự việc rối tung lên và không tự giải quyết nổi họ mới tìm đến luật sư.
Họ không móc nối được với cán bộ thì nhờ luật sư làm hộ.
Vì xã hội chưa tín nhiệm nên nghề luật sư ở Việt Nam không phải là một nghề đem lại thu nhập cao. Trừ một vài thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và trừ ra những luật sư đã thành công kiếm tiền từ những mảng công việc khác rồi mới chuyển sang làm luật sư, số đông còn lại đời sống còn nhiều khó khăn.
Ở các tỉnh, khi không vào được công chức nhà nước hoặc không được làm tại các công ty lớn, nhiều người mới đành hài lòng với nghề luật sư.
Khi gặp gỡ trao đổi với luật sư các tỉnh, sẽ dễ dàng nhận thấy những nét ưu tư trăn trở trên gương mặt, qua những câu chuyện sẽ thấy tâm trạng bải hoải chán chường bế tắc.
Nhưng tất cả lại chỉ trông trờ vào sự thay đổi từ nơi khác, rất hiếm người có bản lĩnh táo bạo thấy được sự thay đổi cần ở ngay nơi mình.

Làm thế nào?

Giới luật sư ở Việt Nam chưa cho thấy là một nghề nghiệp của những con người có kiến thức thuộc tầng lớp trí thức nhận được sự tôn kính của xã hội.
Lâu nay giới luật sư được vinh danh một phần là nhờ hào quang quá khứ của giới luật sư thủa xưa vốn được nhân dân gọi là “thầy cãi”. Một phần là vay mượn giá trị của người luật sư phương Tây qua những bộ phim hình sự truyền hình.
Giới luật sư Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để xứng với kỳ vọng của xã hội về nghề luật sư.
"Tựu chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật sư còn bảo vệ được cho ai?"
Lâu nay các luật sư mới chỉ có thói quen vận dụng các quy định pháp luật hiện tại, không mấy ai đặt câu hỏi tại sao luật lại quy định như thế này mà không phải thế khác, để tạo cơ chế thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân.
Đứng trước quy định bất cập của pháp luật, khi tháo gỡ cho khách hàng nhiều luật sư chỉ biết luồn lọt sao cho được việc mà không mấy ai quan tâm đấu tranh để loại bỏ quy định bất cập ấy.
Ngay với những vấn đề liên quan đến quyền lợi của giới mình, như có những luật chưa tạo điều kiện để giới luật sư hành nghề, nhưng giới luật sư cũng không có tiếng nói phản ánh.
Gần gũi hơn nữa là công tác nhân sự của tổ chức luật sư, nhiều luật sư cũng chẳng thèm quan tâm, nhiều luật sư cho rằng họ vẫn hành nghề tốt mà chẳng cần biết đến ai là người đứng đầu tổ chức của họ.
Đó thực sự là lối suy nghĩ làm việc của đông đảo luật sư Việt Nam, không quan tâm đến tổ chức.
Và đó là cách làm nghề không bền vững và không có tương lai.
Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, giám đốc Công ty luật Công chính ở Hà Nội.

 Tòa án phải mang lại công lý cho mọi người.
Câu nói này bộc lộ đằng sau đó cả một vấn đề to lớn của hệ thống tư pháp.
Có một điều ít người biết đó là lâu nay tòa án chưa bao giờ đem ‘công lý’ đến cho mọi người.
Đây chỉ là lối nói ẩn dụ muốn gây sự chú ý, và vấn đề cũng đáng phải chú ý thật vì: Từ ‘công lý’ hoàn toàn vắng bóng trong nền tư pháp Việt Nam.

Có thật vậy không?

Tìm hiểu qua gần trăm bản án và quyết định của tòa án thì thấy không có một từ ‘công lý’ nào.
Tìm hiểu một số bản cáo trạng của viện kiểm sát và bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra thì cũng không thấy từ ‘công lý’.
Xét một số văn bản luật quan trọng quy định việc xét xử thì thấy: Bộ luật tố tụng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính đều không có từ công lý.
Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự hay luật tổ chức tòa án cũng không có từ công lý.
"Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý"
Do không có điều kiện để khảo sát hết, nhưng hình như từ ‘công lý’ không được sử dụng trong các văn bản tư pháp, từ kết luận điều tra, cáo trạng đến bản án đều không dùng từ công lý.
Thực tế trong 9 năm hành nghề luật sư, đã làm việc tại hàng trăm phiên tòa và không biết bao nhiêu buổi làm việc với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tôi đều không thấy họ nhắc đến hai từ ‘công lý’.
Nhưng vì sao từ công lý lại không được nhắc đến trong các văn bản tố tụng và hiếm khi được nói ra từ miệng các cán bộ tư pháp thì hình như mọi người đều chưa nhận ra lý do.

Ngoài xã hội thì sao?

Tòa án thuộc hệ thống tư pháp 'không được quyền' mạnh hơn bên hành pháp

Xem xét báo chí thì thấy cũng ít khi sử dụng từ công lý hoặc có bài nhắc đến thì hóa ra là những sự vụ chẳng lấy gì làm lớn lao hay nghiêm túc.
Những bài báo viết về các vụ án đa phần chỉ viết một chiều không công tâm khách quan, lời lẽ thì nặng phần đả kích nên khi từ công lý được nhắc đến thì lại thấy kệch cỡm sáo rỗng.
Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý.
Những cơ quan ngôn luận lớn như Đài truyền hình, đài tiếng nói đôi khi cũng lớn tiếng kêu gọi thực thi công lý nhưng là trong các vụ kiện quốc tế khi Việt Nam đòi bồi thường về chất độc màu da cam hay các vụ kiện về cá basa.
Người dân khi có việc liên quan tới tòa án thì cũng chẳng bao giờ thấy nói đến công lý. Trong đời sống thường nhật nếu có ai nhắc đến công lý thì luôn kèm theo sự cảm thán.
Chẳng thế mà trong đời sống đã có một câu nói tới nay đã thành quen thuộc đó là: Công lý chỉ là một diễn viên hài.
Câu nói đã phản ánh sự thất vọng đối với nền tư pháp vắng bóng công lý song cũng kết hợp với yếu tố hài để xoa dịp nỗi oán thán vì trong làng nghệ sĩ hài Việt Nam có một người tên là Công lý.
Vậy phải chăng nền tư pháp Việt Nam không có khả năng đem lại công lý?
Điều đó không hẳn đúng, nhưng rõ ràng có một sự rất bất bình thường khi từ công lý bị chối bỏ không được sử dụng trong nền tư pháp.
Điều này có liên quan thế nào với việc hệ thống tòa án lâu nay hoạt động yếu kém biểu hiện qua các tệ trạng như xử án oan sai, tình trạng chạy án, nhận hối lộ, nhũng nhiễu đương sự bằng cách kéo dài thời gian giải quyết án.v.v.

Nữ thần công lý

Chúng ta biết rằng hệ thống pháp luật Châu Âu với một lịch sử lâu đời đã tạo nên biết bao thành tựu cho nhân loại, trong đó nhiều khái niệm, hình tượng và chế định pháp lý giờ đã trở thành phổ quát cho toàn thế giới.
Nhiều khái niệm và chế định pháp lý của pháp luật Việt Nam là sản phẩm vay mượn từ hệ thống pháp luật Châu Âu.


Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử nhưng tòa án ở Việt Nam thì không
Nhưng có những hình tượng pháp lý mặc dù đã là phổ quát nhưng lại gặp khó khăn khi du nhập vào Việt Nam, ví như hình tượng Nữ thần công lý.
Nữ thần công lý là hình tượng một người phụ nữ có một dải băng che mắt mang ý nghĩa tránh sự chi phối ảnh hưởng từ bên ngoài để giữ sự công tâm khách quan, một tay cầm cán cân để phân định đúng sai phải trái, tay kia cầm thanh gươm biểu tượng của quyền uy tòa án.
Nữ thần công lý có nguồn gốc từ thời văn minh La Mã, là hình tượng tín ngưỡng mang yếu tố tâm linh được tôn vinh và hy vọng đem đến công lý cho con người.
Niềm tin công lý theo đó xuất phát từ niềm tin tôn giáo, là thuộc tính tâm hồn được khơi nguồn từ một thực thể mang tính thần thánh, trong khi đó ở Việt Nam chính thể hiện tại là vô thần.
Đây là chướng ngại lý giải vì sao hình tượng nữ thần công lý không được phổ biến ở Việt Nam và từ ‘công lý’ không được nhắc đến trong nền tư pháp.

Nhân danh gì?

Hệ thống tòa án được thiết kế trên cơ sở học hỏi hệ thống tòa án Phương Tây, nhưng một số khái niệm hay hình tượng do không phù hợp nên khó vận dụng vào Việt Nam như hình tượng nữ thần công lý.
Điều này dẫn đến là khi bị khuyết thiếu những thành tố để cấu thành nên một hệ thống hoàn chỉnh thì người ta đã xoay sở để có được thành tố phù hợp đắp vào chỗ còn thiếu.
Ví như vấn đề tòa án xét xử nhân danh cái gì?
Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử nhưng tòa án ở Việt Nam không nhân danh công lý, thay vào đó tòa án nhân danh nhà nước hay nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhưng sự bù đắp kiểu này lại gây ra những bất cập mà nếu mổ xẻ ra sẽ cho thấy những điều vô lý.
Nếu tòa án nhân danh nước cộng hòa thì không ổn, vì đất nước mặc dù cao quý nhưng không có tinh thần, không có tâm hồn nên đất nước không được cho là thực thể có khả năng đoán định đúng sai đem lại công lý.
Nếu nhân danh nhà nước thì cũng không ổn, vì nhà nước chỉ là sản phẩm công cụ của con người, có thể trở thành một bên đương sự đối trọng với người dân.
Trong hệ thống pháp luật đã có một luật là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, vậy khi Nhà nước có sai phạm và trở thành một bên đương sự thì làm sao Nhà nước vừa là người phán quyết đem lại công lý vừa là đương sự được?
Hệ thống tư pháp là sản phẩm vay mượn từ bên ngoài nhưng các chế định pháp lý đã bị uốn chỉnh sao cho phù hợp với thực tế trong nước, nhưng vì nhiều nguyên do khác nhau nó trở thành một hệ thống không hoàn chỉnh.

"Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm"

Bài toán khó

Nhà nước đã nhận ra những điều bất cập của hệ thống tư pháp nên đã có chủ trương sửa đổi cải cách tư pháp và Chủ tịch nước là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương.
Chủ tịch nước yêu cầu tòa án phải mang lại công lý cho mọi người, đây có thể là một ẩn ý sâu xa chứa đựng một chủ trương lớn.
Theo đó trách nhiệm nặng nề được giao cho tòa án làm sao hóa giải các mâu thuẫn để đưa hình tượng nữ thần công lý vào hệ thống tư pháp vốn không theo tôn giáo nào.
Tức là nội hóa một triết thuyết pháp lý quan trọng của thế giới.
Nhưng tòa án có thể biến khó thành dễ bằng việc sử dụng chữ ‘công lý’ trong các bản án để đem ‘công lý’ đến cho mọi người.
Nếu muốn tòa án còn làm được gì hơn thế, đem đến công lý thực chất cho mọi người thì phải nâng cao vị thế chính trị và mở rộng quyền hạn pháp lý cho tòa án.
Nhưng vấn đề là một khi tòa án lớn quyền thì lại là mối đe dọa đối với các chủ thể khác.
Lâu nay quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền hành pháp.
Chính phủ đã thụ hưởng sự an toàn từ một nền tư pháp yếu.
Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm.
Chủ trương cải cách tư pháp đã có nhưng việc này khó thể thành công nếu vẫn chối bỏ ‘công lý’ và quyền tư pháp vẫn bị kìm giữ trong tình trạng yếu kém như lâu nay.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI

Ngành giáo dục Việt Nam hiện nay đã trải qua ba lần cải cách, nhưng vì vẫn điều hành lối cũ nên càng cải cách càng rơi vào khủng hoảng.
Từ góc nhìn kinh tế muốn tạo cạnh tranh, tạo công bằng và hiệu quả giáo dục cần được tư thục hóa và đây là điều Việt Nam đã làm qua nhiều thời đại.

Nhà Nho dạy học

Tổ chức giáo dục thời xưa được học giả Đào Duy Anh ghi lại trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương như sau:
“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”
Giáo dục có thể xem như là công việc của Nho gia hơn là của chính quyền.
Trường học thì phần lớn là nhà riêng của thầy nho, hoặc ở chùa, đình, miễu hay nhà một người giàu có trong làng.
Các thầy nho hoàn toàn độc lập với công quyền. Họ không được tài trợ và cũng không bị kiểm soát đôn đốc bởi bất cứ cơ quan nào.

Trường công và tư thời Pháp

"Ngoài hệ thống giáo dục công lập rộng khắp Đông Dương, từ năm 1930 một số trường tư thục do tư nhân đã mở ra ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn "
Giáo dục thời Pháp nhằm đào tạo một số người biết tiếng Pháp, biết Quốc Ngữ, có đôi chút hiểu biết để ra làm công chức, làm thông dịch phục vụ cho người Pháp. Mục tiêu xa là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa.
Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, người Pháp đã mở rộng hệ thống giáo dục công lập rộng khắp Đông Dương. Đồng thời từ mục tiêu truyền giáo một số trường tư do giáo hội Thiên Chúa Giáo cũng đã xây dựng và điều hành.
Sau năm 1930 một số tư thục do tư nhân mở ra ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn và ở một vài tỉnh lỵ lớn đa số là các trường bậc Tiểu Học. Bậc Cao Đẳng Tiểu Học chỉ có ở Hà nội, Huế và Sài gòn. Bậc Tú Tài chỉ có ở Hà Nội và Sài Gòn.
Nhà nho vẫn được tiếp tục vai trò giáo dục. Nhưng theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau năm 1906-07 thì các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, ngoài việc dạy chữ Hán phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ.
Khi Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập, người Pháp đã không ngăn cấm hoạt động. Người Pháp chỉ giải tán khi biết được đằng sau Nghĩa Thục là phong trào chống lại thực dân.

Tư thục ở Miền Nam

Giáo dục miền Nam nhằm đào tạo những công dân tốt có khả năng phụng sự xã hội. Vì vậy vai trò của chính phủ là làm sao tạo được sự công bằng và hiệu quả trong việc đầu tư cho giáo dục.
Chiến lược giáo dục miền Nam đựơc nêu rõ trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa: (1) Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục, (2) nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí, (3) nền giáo dục Đại Học được tự trị, (4) những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn và giáo dục, và (5) một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục.
Tập quân sự trong trường học ở Việt Nam ngày nay
Để thực hiện những mục tiêu trên chính phủ miền Nam đã chia sẻ trách nhiệm với các thành phần khác trong xã hội. Những con số dưới đây có thể nói lên được phần nào sự phát triển của hệ thống tư thục trước đây.
Năm 1964 có chừng 435 ngàn học sinh tiểu học chiếm 28 phần trăm tổng số học sinh tiểu học đã được giáo dục tại các trường tư thục. Đến năm 1970 con số tăng lên 452 ngàn nhưng tỉ lệ đã giảm xuống chỉ còn 18 phần trăm.
Ở bậc trung học cả tỉ lệ lẫn số lượng học sinh đều liên tục gia tăng. Nếu năm 1964 các trường tư thục thu nhận 181 ngàn học sinh hay 62 phần trăm tổng số học sinh, thì đến năm 1970 con số tăng gần ba lần lên đến 484 ngàn học sinh chiếm tỉ lệ 78 phần trăm tổng số học sinh trung học.
Về giáo dục đại học, sáu viện đại học tư thục cũng đã được thành lập với chừng 40 ngàn sinh viên tốt nghiệp.

Công lập miễn phí

Nhận thức giáo dục cơ bản mang lại công ích xã hội cao nhất nên chính quyền miền Nam đã tập trung ngân sách quốc gia cho giáo dục tiểu học. Học sinh công lập được hòan tòan miễn phí. Ở bậc tiểu học học sinh còn được ăn bánh mì và uống sữa miễn phí. Sách giáo khoa bậc tiểu học cũng được phát không.
Các trường tư nhờ cạnh tranh nên học phí thấp và phẩm chất giáo dục cũng không mấy chênh lệch. Bởi thế đa số trẻ em miền Nam đều được đến trường ăn học.
Nhờ chia sẻ trách nhiệm với tư nhân, phía chính phủ đã chu cấp một đời sống căn bản cho giáo chức và các công chức trong ngành giáo dục. Nhờ đó miền Nam đã xây dựng được một nền giáo dục có giá trị ngang tầm quốc tế.
Đến năm 1975, hằng ngàn trường tư thục và các viện đại học đã bị tịch thu và nhập vào hệ thống giáo dục theo mô hình Xô Viết.
Hệ thống này đến nay cũng không mấy thay đổi, vẫn độc quyền và chính trị hóa giáo dục.

Công biến thành tư

Ngân sách cho giáo dục hiện nay đã lên đến 20 phần trăm tổng ngân sách quốc gia.
Nhưng vì phải trải rộng cho tòan ngành, thiếu cạnh tranh và hiệu quả, nên các cơ sở học đường đều nghèo nàn, xuống cấp, lương giáo viên không đủ sống, có địa phương thiếu lương trả giáo viên.
Đó là chưa kể đến tình trạng tham nhũng tràn lan khắp ngành giáo dục.
Các trường công lập cũng thâu học phí và nhiều khỏan phí khác gây không ít khó khăn cho phụ huynh học sinh.
Trường công thì đã trở thành trường tư.
Một vài trường tư được thành lập nhưng vì thiếu môi trường cạnh tranh lành mạnh, thiếu học sinh, nên học phí quá cao.
Gia đình trung lưu cũng không đủ khả năng cho con em theo học.
"Thiếu cạnh tranh thì khó có thể nâng cao được phẩm chất của nền giáo dục"
Theo thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP, kể từ ngày 15/7/2014 các học sinh tiểu học công lập sẽ không phải đóng học phí.
Thông tư không nói các lệ phí khác có được miễn hay không? Không thu được học phí, ngân sách lấy gì bù đắp và thực tế sẽ ra sao?

Cần tư thục hóa

Các sinh viên đại học sau vài năm theo học sẽ có công ăn việc làm. Họ sẽ có lợi tức và có khả năng hòan trả các chi phí giáo dục. Người có giáo dục đại học lại thường dễ thay đổi nghề nghiệp và có nhiều khả năng xuất ngọai.
Vì thế một nước chậm phát triển như Việt Nam thay vì đầu tư cho giáo dục đại học nên để các khỏan ngân sách cho việc đầu tư vào giáo dục bậc tiểu học.
Cuộc hội thảo về cải cách giáo dục Đại Học do Nhóm đối thoại giáo dục và Lãnh sự quán Hoa Kỳ vừa tổ chức cho thấy việc tự trị đại học được xem như là giải pháp để thúc đẩy việc cải cách giáo dục đại học Việt Nam.
Có điều các diễn giả không nói rõ tự do chính trị và tự do giáo dục chính là căn bản của một nền đại học tự trị.
Quyền tự trị đại học đã được nêu rõ trong Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa. Miền Nam không có Bộ Đại Học.
Bộ Giáo dục chỉ có một thứ trưởng đặc trách giáo dục đại học, công việc của vị này chủ yếu là lo thực thi những chính sách và ngân sách giáo dục đại học.
Đại học cần được tự trị về học vụ, tài chính và điều hành.
Các hội đồng ở cấp viện đại học và cấp trường đại học (hay phân khoa) có quyền thảo luận và quyết định mà không phải trình báo hay xin chỉ thị từ bất cứ ai.
Các Khoa trưởng không do Bộ Giáo dục bổ nhiệm mà do các giáo sư của Hội đồng Khoa bầu lên.
Khi Đại Học chưa được quyền tự trị thì khó có sự cạnh tranh công bằng giữa đại học công và tư. Một bên đã có nhà nước bảo hộ phía bên kia cần lợi nhuận để tiếp tục duy trì và phát triển. Thiếu cạnh tranh thì khó có thể nâng cao được phẩm chất của nền giáo dục.
Cũng trong thời gian qua, tranh chấp diễn ra tại Đại học tư thục Hoa Sen xoay quanh việc ai quyết định chiến lược và thành quả của chiến lược thuộc về ai? Cuộc tranh chấp nhằm chọn giữa hai phương cách quản lý đại học: vụ lợi hay phi vụ lợi.
Tổ chức vô vụ lợi (phi lợi nhuận) họat động không vì lợi nhuận nhưng về lâu dài việc quản lý cũng cần có thặng dư để tái đầu tư và phát triển.

Khuyến khích đầu tư

Tư thục hóa giáo dục là hướng đi cho Việt Nam
Ở các nước Tây Phương các tổ chức vô vụ lợi hoạt động trong ngành giáo dục được khuyến khích bằng cách miễn thuế lợi tức.
Các cá nhân hay công ty đóng góp cho các tổ chức giáo dục vô vụ lợi cũng được khai giảm thuế lợi tức hằng năm.
Để khuyến khích phát triển giáo dục tư thục, ngoài việc chính phủ cấp học bổng hay ngân sách cho đại học cả tư lẫn công, có quốc gia còn cho các sinh viên vay tiền học phí và chỉ hòan trả lại khi họ đã có công ăn việc làm vững chắc.
Nhiều quốc gia miễn thuế cho các dịch vụ thuộc về giáo dục. Có quốc gia còn khấu trừ thuế lợi tức các chi tiêu cá nhân hay công ty đầu tư cho việc giáo dục và đào tạo.
Chính phủ cũng cần tạo mọi cơ hội để các trường đại học tư thục được sự giúp đỡ của chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các công ty liên quốc, các cộng đồng hải ngọai và các mạnh thường quân quan tâm đến giáo dục.
"Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tư thục hóa nền giáo dục của họ. Nhiều nước như Úc còn xem giáo dục như mặt hàng xuất khẩu chiến lược"
Úc coi giáo dục là hàng xuất khẩu
Dựa trên căn bản chiến lược, chính sách và luật pháp quốc gia, các trường đại học tư thục có toàn quyền quyết định giữa tổ chức quản lý đại học bằng cách vụ lợi hay vô vụ lợi.
Các trường tiểu học và trung học tư thục, việc điều tài chính và quản lý tùy thuộc vào Ban Quản Trị nhà trường. Bộ Giáo Dục chỉ quy định chương trình và giám sát phẩm chất giáo dục các trường.
Ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đã tư thục hóa nền giáo dục của họ. Nhiều nước như Úc còn xem giáo dục như mặt hàng xuất khẩu chiến lược.
Trong khi ấy nền giáo dục Việt Nam vẫn lệ thuộc vào tư tưởng giáo dục Liên Xô trước đây, khi tự do chính trị và tự do giáo dục chưa có, mọi cải cách đều không mang lại kết quả, nền giáo dục càng ngày càng suy thóai, dẫn đến khủng hoảng xã hội.
Năm 1945, chỉ trong vòng vài tháng chính phủ Trần Trọng Kim đã hoàn thành cuộc cách mạng giáo dục lần thứ nhất chuyển chương trình giáo dục từ Pháp ngữ sang Việt ngữ.
Xây dựng giáo dục trên ba nguyên tắc: dân chủ, dân tộc, khoa học và lấy lý tưởng phụng sự quốc gia làm tôn chỉ.
Giáo dục gắn liền với phát triển quốc gia, bởi thế muốn đưa đất nước đi lên chúng ta cần sửa sọan tư tưởng sẵn sàng lấy việc tư thục hóa làm nền tảng cho cuộc cách mạng giáo dục lần này như các thế hệ trước đã làm.
Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả Nguyễn Quang Duy từ Canberra, Úc.