Thứ Ba, 10 tháng 12, 2013

Người dẫn dắt

Chúng ta là người phải sống cuộc đời của chính mình, phải tự chịu trách nhiệm về mọi kết quả trong đời của mình, phải tự bước đi bằng đôi chân của mình và phải đi trên con đường dành riêng cho mình. Vì thế, mỗi người phải tìm cho ra con đường của chính mình và đi trọn con đường ấy. Trên hành trình này, chỉ có bạn, duy chỉ có bạn mới biết bạn cần đi đâu, về đâu, ngoài bạn ra, chẳng ai khác có thể biết được hay đi thay bạn được. Vậy thì thầy của ta, người dẫn dắt ta còn lâu mới biết được ta cần đi đâu để mà dắt đi cho đúng! Chẳng phải họ chỉ biết được đường của họ sao?
Chính vì nghĩ như thế, nhiều người chọn cách tự tìm kiếm con đường của mình, chấp nhận thử – sai và trả giá chứ nhất định không tin rằng họ cần phải có người dẫn đường. Có bạn lập luận rằng: “Theo tôi nghĩ, không hẳn chúng ta luôn cần một người dẫn đường, mà chính chúng ta phải tự tìm đường đi cho mình trước đã. Hãy thử đi, lạc đường đi lại, những lần lạc đường đó giúp con người biết nhiều đường hơn, bạn thuộc lòng những con đường đó như lòng bàn tay bạn vậy. Điều đó giúp bạn biết đâu là con đường ngắn nhất, đâu là con đường dễ đi nhất mà quyết định.” …
Có bạn cho rằng, ai làm gì thì làm, mỗi người phải tự bước qua những đoạn đường ấy thì mới thật sự có được những trải nghiệm và bài học cho riêng mình, còn nghe từ người khác hay sách vở thì chỉ là lý thuyết mà thôi.
Và có những bạn lập luận: “Thế những người đầu tiên trên thế giới này thì ai chỉ đường cho họ mà họ vẫn thành công đấy thôi? Từ trước đến giờ thiếu gì những người như thế, thậm chí là vang dội, mà những con người đó đã từng sống trong thời kỳ mà cái gọi là “diễn giả” còn khá xa lạ. Vậy lúc ấy ai là người chỉ đường cho họ đây?” Hay, những vĩ nhân – là những người thuộc hàng siêu việt – ai có khả năng hơn họ để dẫn đường cho họ?
Có bạn cho rằng: “Thực sự “cuộc sống” mới là người thầy của chúng ta. Chính những trải nghiệm ta gặp trên đường đời, những sai lầm ra mắc phải mới là thầy đích thực. Chứ diễn giả, giảng viên, huấn luyện viên, giáo viên, người dẫn dắt (mentor), nhà tư vấn, người cố vấn… chỉ là phần nhỏ mà thôi.” Hay tương tự, cũng có ý kiến: “Cuộc đời này không có ai là thầy của ai cả, mà cũng chẳng có ai dạy được ai đâu, tự mình đi tìm câu trả lời thôi. Thế mới thú vị!”. Rồi có bạn nhấn mạnh: “Những lần vấp ngã trong đời mới giúp mình học được những bài học để trưởng thành, từ đó mới đứng vững trên đôi chân của mình mà không cần dựa giẫm vào người dẫn dắt nào cả. Hay: “Người dẫn đường đôi lúc sẽ biết bạn thành một cái máy nếu bạn không thể tự khám phá những điều lí thú ở ngay trong chính bản thân mình. Người dẫn đường không thể đưa bạn đến với thành công mà họ chỉ dắt bạn đến chân của nó và để bạn ngắm nhìn nó… Hãy luôn tin vào chính mình, đừng quá tin vào ai cả.”
Đó là lập luận của các bạn phủ nhận vai trò và sự cần thiết của người dẫn dắt trong cuộc đời mỗi người.
Bên cạnh đó, một luồng ý kiến khác là tỏ ra trăn trở, băn khoăn, lo lắng. Đó là: “Làm sao để tìm được người dẫn dắt tốt, phù hợp với mình trong khi rất nhiều người ngoài kia, điều đó thật khó. Bởi vì những bước đầu đời thì con người liệu có đủ khả năng phân biệt đâu là người dẫn dắt tốt mà theo, còn ai là người không phải như vậy. Những người diễn giả ngày nay đầu tư quá tốt cho khoản ăn nói, hùng biện, thuyết phục. Họ hầu như vượt xa người nghe, nhất là những người trẻ. Người nghe thậm chí thấy có gì đó không đúng nhưng không thể nhận ra nó một cách rõ ràng và rồi vẫn đi theo, điều đó rõ ràng là không tốt.”
Và cũng nhiều bạn đồng ý với nhau rằng, tự mỗi người chính là người dẫn đường tốt nhất cho mình: “Người dẫn lối cho bạn trong cuộc sống chính là bản thân bạn. Bởi lẽ chỉ có bạn mới thấu hiểu hết được con người mình, mình cần làm gì, nên làm gì, làm thế nào để thực hiện mục tiêu… Tôi không phản đối sẽ có những con người khác giúp đỡ bạn trong cuộc sống, nhưng họ sẽ chỉ GIÚP ĐỠ bạn được thôi, chứ không thể QUYẾT ĐỊNH hay ĐỀ RA MỤC TIÊU CUỘC ĐỜI cho bạn. Thành công hay không phần lớn là do bạn có hiểu mình và đi đúng hướng hay không.” Hay: “Người dẫn đường luôn tồn tại trong bạn, đừng tìm kiếm đâu cho xa. Tất cả những người mà bạn cho là người dẫn đường thực ra chỉ là BẠN hoặc THÙ, còn người dẫn đường thực sự của bạn chính là TRÁI TIM trong lồng ngực đang đập của bạn.”
Có bạn cho rằng, người dẫn dắt chỉ cần thiết trong một thời điểm nào đó mà thôi: “Việc cần những người dẫn dắt là điều cần thiết khi: mình không nhận ra ý nghĩa của cuộc đời và những điều huyền diệu bên trong, không thể có một tư duy độc lập, không thể có những phát kiến sáng tạo thì vai trò của người dẫn dắt thể hiện rất rõ. Nhưng đến một lúc nào đó, tư duy của bạn vượt trước thời đại, ai sẽ là người dẫn dắt bạn? Không, bạn mới chính là người ta ra những thay đổi cho thế giới. Người dẫn dắt bạn không phải lúc nào cũng phải ở bên bạn và hỗ trợ bạn. Không phải ai cũng biết được hết những điều xa xôi của vũ trụ. Hãy là một thiên tài và tạo nên những khác biệt cho chính mình.”
- See more at: http://quachtuankhanh.net/nguoi-dan-dat-trong-doi-can-hay-khong/#sthash.as6p6pey.dpuf

Vì sao?

Chúng ta là người phải sống cuộc đời của chính mình, phải tự chịu trách nhiệm về mọi kết quả trong đời của mình, phải tự bước đi bằng đôi chân của mình và phải đi trên con đường dành riêng cho mình. Vì thế, mỗi người phải tìm cho ra con đường của chính mình và đi trọn con đường ấy. Trên hành trình này, chỉ có bạn, duy chỉ có bạn mới biết bạn cần đi đâu, về đâu, ngoài bạn ra, chẳng ai khác có thể biết được hay đi thay bạn được. Vậy thì thầy của ta, người dẫn dắt ta còn lâu mới biết được ta cần đi đâu để mà dắt đi cho đúng! Chẳng phải họ chỉ biết được đường của họ sao?
Chính vì nghĩ như thế, nhiều người chọn cách tự tìm kiếm con đường của mình, chấp nhận thử – sai và trả giá chứ nhất định không tin rằng họ cần phải có người dẫn đường. Có bạn lập luận rằng: “Theo tôi nghĩ, không hẳn chúng ta luôn cần một người dẫn đường, mà chính chúng ta phải tự tìm đường đi cho mình trước đã. Hãy thử đi, lạc đường đi lại, những lần lạc đường đó giúp con người biết nhiều đường hơn, bạn thuộc lòng những con đường đó như lòng bàn tay bạn vậy. Điều đó giúp bạn biết đâu là con đường ngắn nhất, đâu là con đường dễ đi nhất mà quyết định.” …
Có bạn cho rằng, ai làm gì thì làm, mỗi người phải tự bước qua những đoạn đường ấy thì mới thật sự có được những trải nghiệm và bài học cho riêng mình, còn nghe từ người khác hay sách vở thì chỉ là lý thuyết mà thôi.
Và có những bạn lập luận: “Thế những người đầu tiên trên thế giới này thì ai chỉ đường cho họ mà họ vẫn thành công đấy thôi? Từ trước đến giờ thiếu gì những người như thế, thậm chí là vang dội, mà những con người đó đã từng sống trong thời kỳ mà cái gọi là “diễn giả” còn khá xa lạ. Vậy lúc ấy ai là người chỉ đường cho họ đây?” Hay, những vĩ nhân – là những người thuộc hàng siêu việt – ai có khả năng hơn họ để dẫn đường cho họ?
Có bạn cho rằng: “Thực sự “cuộc sống” mới là người thầy của chúng ta. Chính những trải nghiệm ta gặp trên đường đời, những sai lầm ra mắc phải mới là thầy đích thực. Chứ diễn giả, giảng viên, huấn luyện viên, giáo viên, người dẫn dắt (mentor), nhà tư vấn, người cố vấn… chỉ là phần nhỏ mà thôi.” Hay tương tự, cũng có ý kiến: “Cuộc đời này không có ai là thầy của ai cả, mà cũng chẳng có ai dạy được ai đâu, tự mình đi tìm câu trả lời thôi. Thế mới thú vị!”. Rồi có bạn nhấn mạnh: “Những lần vấp ngã trong đời mới giúp mình học được những bài học để trưởng thành, từ đó mới đứng vững trên đôi chân của mình mà không cần dựa giẫm vào người dẫn dắt nào cả. Hay: “Người dẫn đường đôi lúc sẽ biết bạn thành một cái máy nếu bạn không thể tự khám phá những điều lí thú ở ngay trong chính bản thân mình. Người dẫn đường không thể đưa bạn đến với thành công mà họ chỉ dắt bạn đến chân của nó và để bạn ngắm nhìn nó… Hãy luôn tin vào chính mình, đừng quá tin vào ai cả.”
Đó là lập luận của các bạn phủ nhận vai trò và sự cần thiết của người dẫn dắt trong cuộc đời mỗi người.
Bên cạnh đó, một luồng ý kiến khác là tỏ ra trăn trở, băn khoăn, lo lắng. Đó là: “Làm sao để tìm được người dẫn dắt tốt, phù hợp với mình trong khi rất nhiều người ngoài kia, điều đó thật khó. Bởi vì những bước đầu đời thì con người liệu có đủ khả năng phân biệt đâu là người dẫn dắt tốt mà theo, còn ai là người không phải như vậy. Những người diễn giả ngày nay đầu tư quá tốt cho khoản ăn nói, hùng biện, thuyết phục. Họ hầu như vượt xa người nghe, nhất là những người trẻ. Người nghe thậm chí thấy có gì đó không đúng nhưng không thể nhận ra nó một cách rõ ràng và rồi vẫn đi theo, điều đó rõ ràng là không tốt.”
Và cũng nhiều bạn đồng ý với nhau rằng, tự mỗi người chính là người dẫn đường tốt nhất cho mình: “Người dẫn lối cho bạn trong cuộc sống chính là bản thân bạn. Bởi lẽ chỉ có bạn mới thấu hiểu hết được con người mình, mình cần làm gì, nên làm gì, làm thế nào để thực hiện mục tiêu… Tôi không phản đối sẽ có những con người khác giúp đỡ bạn trong cuộc sống, nhưng họ sẽ chỉ GIÚP ĐỠ bạn được thôi, chứ không thể QUYẾT ĐỊNH hay ĐỀ RA MỤC TIÊU CUỘC ĐỜI cho bạn. Thành công hay không phần lớn là do bạn có hiểu mình và đi đúng hướng hay không.” Hay: “Người dẫn đường luôn tồn tại trong bạn, đừng tìm kiếm đâu cho xa. Tất cả những người mà bạn cho là người dẫn đường thực ra chỉ là BẠN hoặc THÙ, còn người dẫn đường thực sự của bạn chính là TRÁI TIM trong lồng ngực đang đập của bạn.”
Có bạn cho rằng, người dẫn dắt chỉ cần thiết trong một thời điểm nào đó mà thôi: “Việc cần những người dẫn dắt là điều cần thiết khi: mình không nhận ra ý nghĩa của cuộc đời và những điều huyền diệu bên trong, không thể có một tư duy độc lập, không thể có những phát kiến sáng tạo thì vai trò của người dẫn dắt thể hiện rất rõ. Nhưng đến một lúc nào đó, tư duy của bạn vượt trước thời đại, ai sẽ là người dẫn dắt bạn? Không, bạn mới chính là người ta ra những thay đổi cho thế giới. Người dẫn dắt bạn không phải lúc nào cũng phải ở bên bạn và hỗ trợ bạn. Không phải ai cũng biết được hết những điều xa xôi của vũ trụ. Hãy là một thiên tài và tạo nên những khác biệt cho chính mình.”

Tôi và nhiều bạn khác lại cho rằng: chúng ta KHÔNG THỂ THIẾU người dẫn dắt trong đời!


Vì sao?

Trước hết, chúng ta cần hiểu đúng về người dẫn dắt hay người dẫn đường của chúng ta trong đời này là gì đã.
Người dẫn đường hay dẫn dắt ở đây không phải chỉ là người giúp bạn định hướng cuộc sống hay ước mơ, mà còn là dẫn dắt về sức khỏe, tình cảm, kỹ năng, công việc, sự nghiệp, tài chính, ca hát, bơi lội, vui chơi, ăn uống, giải trí… Mỗi một mặt trong cuộc sống, mỗi chúng ta đều cần những người chỉ đường hay dẫn dắt mà chúng ta có thể gọi chung là thầy. Họ là người chia sẻ, chỉ bảo, hướng dẫn, làm gương, hỗ trợ, dẫn dắt bạn trong một việc nào đó hoặc một mặt nào đó trong đời bạn. Người thầy ở đây không nhất thiết phải là người làm những công việc liên quan đến dạy học, cũng chẳng nhất thiết phải là người bằng xương bằng thịt. Thầy ở đây là một nguồn nào đó mà nơi ấy bạn tìm thấy cho mình những hướng dẫn bài bản, những kinh nghiệm cần thiết, những hiểu biết bổ ích để bạn làm một việc nào đó có kết quả – dù đó là một việc nhỏ (như pha một ly cà phê ngon) hay một việc lớn và quan trọng liên quan đến ước mơ, sứ mạng, mục đích sống của bạn trong đời.
Khi hiểu về người dẫn dắt hay người thầy theo nghĩa này, bạn sẽ thấy được rằng, bạn chẳng thể và chẳng nên tự mình làm bất cứ điều gì cả. Tất cả là bạn được học hỏi và thừa hưởng những nền tảng từ những người đã để lại những đúc kết, hướng dẫn và chia sẻ qua rất nhiều ngả khác nhau. Điều duy nhất bạn tự làm trong đời đó là áp dụng, vận dụng những chỉ dẫn đó một cách khôn ngoan để sống cuộc đời của chính mình, và tự chịu trách nhiệm về mọi kết quả cuộc đời của mình; ngoài việc đó ra, bạn hay bất cứ ai – kể cả những vĩ nhân – chẳng thể tự mình làm được gì cả, và người khôn ngoan thì cũng chẳng bao giờ đóng hết tất cả mọi cánh cửa của việc học hỏi và tiếp thu từ những bậc thầy để khăng khăng tự mình làm tất cả mọi sự, nhưng họ biết “đứng trên vai người khổng lồ”!
Bạn vẫn một mực là mình bạn có thể tự làm mọi thứ mà nhất định không cần thầy, không cần ai dẫn dắt ư? Vậy, cho tới lúc này, bạn đã từng đọc một cuốn sách nào đó rồi mang những chia sẻ, hướng dẫn trong đó ra áp dụng và thấy hữu ích cho đời mình chưa? Bạn có từng lên Google tìm kiếm một thông tin nào đó mà bạn cần cho công việc của mình chưa? Bạn tự hào là người có khả năng tìm kiếm và sàng lọc thông tin rất tốt, chẳng cần hỏi đến ai, vậy thì kỹ năng đó ở đâu mà bạn có được, hay là ngay từ khi sinh ra bạn đã có sẵn khả năng ấy rồi?… Bạn có thể tự làm mọi thứ mà chưa bao giờ phải nhờ ai hướng dẫn, nhưng bạn thử nghĩ xem làm sao bạn có thể tự mình hoàn toàn nếu bạn chưa bao giờ từng thấy ai làm?
Để tự là người dẫn dắt cho chính mình, bạn cần thật sự thấu hiểu được chính mình, mà để làm được việc này, bạn cũng cần người thầy dạy bạn cách thấu hiểu bản thân vì việc này hoàn toàn không hề dễ và cũng chẳng thể tự làm được. Để đi được con đường của riêng mình, bạn cũng rất cần người có kinh nghiệm hướng dẫn bạn cách “đi con đường riêng”.  Nếu bạn tự chọn một con đường riêng và tự bước đi mà không cần ai chỉ bảo hay dẫn dắt, thì khi bạn lạc đường (chuyện này  dễ dàng xảy ra vì bạn đang thử-sai và mò mẫm mà), cách nào để bạn nhận ra mình bị lạc vì bạn là người quyết định chọn con đường ấy ngay từ đầu mà? Lúc này, người dẫn đường trong bạn là ai, có đáng tin cậy không, có chắc sẽ mách cho bạn một con đường đi mới đúng hướng không? Lúc đó, chẳng phải bạn cần một người bên ngoài dẫn dắt, kéo bạn ra khỏi lối sai ấy? Hoặc khi cảm thấy hoang mang với con đường mình đang đi, bạn cầu cứu đến Thượng đế giúp bạn thức tỉnh, thì chẳng phải đó cũng là một người dẫn dắt của bạn sao? Mà làm sao để bạn biết cách “liên lạc” với người thầy vĩ đại ấy nếu như bạn chưa từng được một ai đó giúp bạn điều này?
Bạn hãy biết rằng, trong cuộc đời này có vô số những con đường, mà con đường dành cho bạn thì chỉ có 1 mà thôi. Vậy bạn phải thử sai đến bao giờ? Liệu bạn có đủ nhẫn nại để đi từ cái sai này đến cái sai khác trước khi thành công? Bạn vẫn có thể tự tìm về đến nhà khi đi lạc đường mà không cần phải hỏi ai cả. Nhưng nếu bạn hỏi những người biết đường thì bạn có thể về nhà sớm hơn, đỡ nhọc sức hơn. Bạn vẫn có thể tự nỗ lực, nhưng có người đi trước rồi thì tại sao lại cứng đầu và không chịu học hỏi? Cuộc đời mỗi người còn nhiều thứ cần phải nỗ lực và kiên cường lắm, bạn không cần phải hoài phí công sức và thời gian cho những chuyện không đáng, đó là chưa kể đến trường hợp có khi bạn càng cố gắng lần ra lối về thì bạn lại càng đi lạc xa hơn. Trong khi đó, vai trò của người dẫn dắt là giúp bạn chọn đường tốt hơn, và chỉ cho bạn cách đi nào hiệu quả. Cuộc đời của mỗi người chúng ta có giới hạn, vì vậy, chúng ta phải thật sự tỉnh táo và khôn ngoan để chọn cho mình cách nào tới đích nhanh nhất và hiệu quả nhất. Chẳng phải bạn chỉ tổ phí thời gian và công sức cho việc thử – sai và mò mẫm để đi một đoạn đường đã có rất nhiều người từng đi qua, và họ sẵn sàng chia sẻ lại thông tin và kinh nghiệm? Chẳng phải có những định luật, qui tắc, công thức…đã được đúc kết mà bạn chỉ cần ứng dụng mà không cần phải quay lại chứng minh từ đầu?
Không có nhiều người biết tự học và tự rút kinh nghiệm từ cuộc sống. Bạn thử xem lại rất nhiều kỹ năng bạn làm hàng trăm lần trong đời, nhưng vẫn không cải thiện được mấy nếu không có thầy hay chuyên gia giúp bạn, ví dụ như kỹ năng trò chuyện hoặc giới thiệu bản thân. Hơn nữa, trong mỗi người luôn có một ĐIỂM TỐI nào đó mà bản thân người đó không thể tự nhận ra được; người dẫn dắt bạn sẽ giúp bạn nhận diện được điểm tối của bạn – điều này hỗ trợ bạn rất nhiều trên hành trình đi đến thành công.
Và nếu có ai đó được gọi là nhà sáng chế hay phát minh đầu tiên, những người đi trước thời đại, những siêu sao, những vĩ nhân… thì họ vẫn có những người dẫn dắt cho họ. Chẳng phải họ cũng phải học hỏi từ tri thức nhân loại được ghi chép lại? Khi vĩ nhân tìm ra điều gì mới mẻ, chưa từng có ai nghĩ đến thì không có nghĩa là họ không có thầy. Mọi ông vua thời trước cũng có thầy, có quân sư; xã hội thời trước có nhà hùng biện… Không ai thành công mà không có thầy. Vấn đề là họ học thầy qua cách nào mà thôi: đọc sách, nghe tư vấn, được kèm cặp, hay đến lớp… Khi chúng ta không biết thầy của họ là ai không có nghĩa là họ không có thầy. Và nếu đi ngược trở về thời kỳ bắt đầu của thế giới này, bạn cũng đừng quên một người thầy của mọi người là Thượng đế.
Bản thân bạn cũng vậy, cho đến một lúc, bạn trở nên minh triết trong nhiều mặt cuộc đời, bạn không cần phải lắng nghe sự hướng dẫn và dạy bảo của ai cả, thì lúc đó, bạn vẫn cần một người thầy là Thượng đế. Bạn sẽ phải lắng nghe được những chỉ dẫn của Thượng đế thông qua việc lắng nghe sự thông tuệ bên trong chính mình nếu bạn muốn đi đúng đường. Nhưng bạn cũng cần biết rằng, khi con người chỉ cần nghĩ “Tôi biết rồi!” chính là lúc sự học chấm đứt với người đó, dù những gì họ biết chỉ là hạt cát trên sa mạc và rõ ràng chưa đủ để giải quyết mọi vấn đề cuộc sống.
Nếu bạn đã thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết phải có người dẫn dắt trong đời, thì việc vô cùng quan trọng là bạn phải tìm cho được những người thầy, những người dẫn dắt đúng nghĩa.

Đâu là tiêu chuẩn chọn một người dẫn dắt, một người thầy đúng nghĩa?

Thầy phải làm được điều thầy nói, hoặc thầy phải là chuyên gia đến một chừng mực nào đó về lĩnh vực hay phạm vi mà họ hướng dẫn cho bạn thông qua việc họ nghiêm túc tìm hiểu, nghiên cứu, đúc kết.
Nhiều người chỉ bám vào vế đầu đó là: thầy thì phải làm được điều thầy nói, mà quên rằng, việc họ đào sâu nghiên cứu nghiêm túc cũng giúp mang lại nhiều giá trị cho bản thân họ và hữu ích cho người khác mà không nhất thiết họ phải là người thực hành những gì họ nghiên cứu. Một giáo sư cho ra một công trình nghiên cứu về phương pháp giáo dục hiệu quả dành cho trẻ bị tự kỷ thì không nhất thiết ông phải có xuất thân là một người đi dạy trẻ tự kỷ; hoặc sau khi nghiên cứu công trình đó, ông phải mang phương pháp đó đi dạy trẻ tự kỷ thành công thì mới được công nhận hoặc mới có quyền hướng dẫn người khác áp dụng phương pháp này.
Và người thầy hay người dẫn dắt cho bạn nhất định phải là người giỏi hơn bạn rồi, nhưng giỏi hơn bạn chỉ trong lĩnh vực và phạm vi mà họ hướng dẫn cho bạn, đừng đòi buộc họ phải hơn hẳn bạn trong mọi mặt thì mới xứng đáng làm thầy của bạn. Giáo sư Ngô Bảo Châu có thầy dạy toán, nhưng thầy của anh chưa chắc giỏi hơn anh trong lĩnh vực anh nghiên cứu. Nhưng nếu không có được những nền tảng vững chắc mà người thầy đó hướng dẫn, Ngô Bảo Châu làm sao để có được những công trình tuyệt vời như thế?
Diễn giả cũng là những người thầy, người dẫn dắt theo hướng chia sẻ và giúp người khác khám phá một lĩnh vực hay một mặt nào đó trong cuộc sống dựa trên tri thức và kinh nghiệm mà họ đã trải qua hoặc nghiên cứu. Mỗi diễn giả cũng chỉ chuyên về một lĩnh vực nào đó mà thôi, đừng đòi buộc họ phải toàn năng thì mới xứng đáng là người dẫn dắt. Và họ không phải là chốt chặn của bạn, mà giúp bạn khám phá con người của bạn và sống cuộc đời của chính bạn.
Bạn hãy biết rằng, một người dẫn đường đúng đắn luôn tôn trọng mục tiêu cuộc đời bạn và gợi ý cho bạn tự tìm đến đích cuộc đời mình. Bạn đừng sợ bạn sẽ không thể trưởng thành nếu có người dẫn dắt. Người thầy chân chính luôn biết cách buông bạn ra khi thấy bạn đã trưởng thành. Người thầy ấy cũng liên tục nhắc bạn “Hãy trưởng thành đi!” trong suốt tiến trình họ dẫn dắt bạn. Mục tiêu của họ là giúp bạn trưởng thành chứ không phải biến bạn thành kẻ lệ thuộc vào họ.
Người thầy đúng nghĩa có thể đi trước bạn, dẫn dắt bạn, nhưng bạn hoàn toàn có thể vượt qua họ mà họ vẫn rất vui nếu không muốn nói đó là niềm tự hào của họ, và họ luôn xem đó là một thành quả lớn lao của mình. Mọi nhà vô địch thế giới đều có huấn luyện viên, và nếu thầy trò họ thi đấu với nhau, bạn nghĩ ai sẽ thắng? Có phải nhất định huấn luyện viên phải thắng học trò mình thì anh ta mới xứng đáng và mới có thể làm tốt vai trò huấn luyện? Người dẫn đường đích thực không phải là người hướng bạn đi theo bất cứ một con đường nào có sẵn hay cố tình đưa bạn vào con đường người ấy đã đi qua, nhưng nhờ những kinh nghiệm và hiểu biết của mình, họ sẽ giúp bạn mở ra một con đường mới cho bạn, nhanh và hiệu quả hơn là bạn mò mẫm và thử sai liên tục.
Và có một điều quan trọng bạn cần lưu ý: dù bạn có đặt lòng tin hoàn toàn vào người dẫn đường của bạn vì họ xứng đáng như vậy, hay cho dù họ có là người dẫn đường chân chính và xuất sắc đến đâu đi nữa thì đừng vì thế mà quên rằng: họ không phải là đích đến, và bạn mới là người phải chịu trách nhiệm cho chuyện đến đích của mình. Đừng lệ thuộc, chỉ nên tin cậy! Khôn ngoan thì đời mình đừng trao cho người khác nắm giữ. Nhưng khôn ngoan hơn là biết học hỏi và đặt lòng tin vào những người dẫn dắt đích thực.

Vậy thì thầy hay người dẫn dắt có chịu trách nhiệm cho sự thành bại của bạn không?

Có, nhưng chỉ một phần thôi. Bạn cần nắm vững công thức thành công, đó là: Con đường đúng + Đích đến đúng + Phương pháp đúng, và điều cực kỳ quan trọng là bạn thực hiện đúng phương pháp và đi đúng con đường. Thầy có thể giúp bạn tìm con đường đúng, xác định được đích đến đúng, lựa chọn phương pháp phù hợp, nhưng người thực hiện phương pháp đó là bạn, nên kết quả thế nào thì chính bạn phải là người chịu trách nhiệm cuối cùng.
Người dẫn dắt không đi thay bạn, giỏi và dở còn ở chỗ bạn áp dụng và đi như thế nào theo những gì được hướng dẫn. Có những người giỏi nhưng không tìm được người hướng dẫn, tự mò mẫm nên thất bại hoặc chậm thành công. Có những người chỉ khá thôi, nhưng khôn ngoan tìm người hướng dẫn tốt nên về đích sớm trong đời.
Chính vì thế, bạn phải luôn khôn ngoan và tỉnh táo trong việc lựa chọn cho mình những người thầy hay người dẫn đường chân chính trong từng lĩnh vực giú

Thứ Năm, 31 tháng 10, 2013

Bí Quyết HNGĐ




Chạy xe trên đường, chồng nói vài câu làm vợ giận, vợ buông tay đang ôm chồng.
Chồng vội vàng dừng xe, kéo 2 tay vợ lại và nói:
- "Giận thì nói, chứ đừng buông tay
Kẻo ngã lăn quay, chẳng may què quặt..."
Vợ mỉm cười hạnh phúc và ôm chồng thật chặt :">
.
.
.
Vậy nên "giận thì nói, chứ đừng buông tay..." bạn nhé!




 Thư gửi chồng tương lai

Ai cũng có một mảnh trời riêng, một quá khứ để nhớ. Nếu một lúc nào đó, anh bỗng nhớ về người yêu cũ thì em sẽ không ghen đâu. Em sẽ lặng lẽ đợi, đợi đến giây phút anh bừng tỉnh, thoát ra khỏi những suy tư để nhớ ra rằng anh đã quên chưa sắp bát đũa chuẩn bị cho bữa chiều.

Anh ơi, dù với em anh không phải là mối tình đầu, dù tình cảm em dành cho anh không nồng nàn, say đắm sau những đổ vỡ, thì xin anh hãy tin rằng em đã dành trọn niềm tin cho anh với những cảm xúc chín chắn và trưởng thành thực sự.

Người ta nói, tình yêu như cây xanh, cần nước và ánh sáng để tồn tại. Thiếu một trong hai thứ đó, cây sẽ chết. Nên tình yêu cần có sự chăm sóc và vun vén của cả 2 người. Mình hãy cùng nhau chăm sóc cho mầm tình yêu xanh tươi mãi mãi nhé anh!

Nếu anh phải ra ngoài công tác hay gặp gỡ bạn bè, nếu anh mải vui, đừng quên rằng ở nhà có em đang chờ anh bên mâm cơm nóng hổi. Khi nhớ ra điều này, hãy về nhà với em ngay được không anh?

Anh đừng bao giờ đi qua đêm, bởi em rất sợ phải ngủ một mình mà không có anh. Nên nếu hôm sau về nhà, đừng ngạc nhiên thấy nhà trống trải. Hãy về nhà mẹ đón em nhé.

Là vợ chồng ai chẳng có lúc bất đồng, cãi vã. Khi anh nổi giận, em sẽ bỏ ra ngoài, cho đến khi nào anh bình tĩnh lại. Nếu anh muốn làm lành hay xin lỗi hãy mua cho em một bó hoa là đủ vì anh biết em sẽ ngang bướng không bao giờ chịu làm lành trước đâu nhưng có thể mềm đi vì những cử chỉ lãng mạn ấy của anh. Và vì em hiểu rằng rất khó với người đàn ông khi phải nói câu: "Anh xin lỗi".

Đừng quên hôn em trước lúc đi làm và sau khi tan làm. Em sẽ học cách cảm nhận tình cảm và suy nghĩ của anh qua những nụ hôn. Nụ hôn thật lâu khi anh đi làm về cho em biết là anh rất nhớ em. Nụ hôn vội vàng nghĩa là anh đang mệt. Nụ hôn đứt quãng nghĩa là anh đang gặp những điều phiền muộn. Như thế em sẽ dễ dàng hiểu và chia sẻ được với anh hơn!

Đừng ngạc nhiên nếu em mất hàng giờ để trang điểm, làm đẹp hay chỉ là để chọn một bộ đồ ưng ý. Đơn giản em chỉ muốn mình luôn đẹp trong mắt anh và mọi người. Chẳng phải anh sẽ thấy hãnh diện hơn khi mọi người khen rằng anh có một người vợ đẹp hay sao?

Còn nhiều, nhiều lắm những điều em muốn nói với anh. Nhưng em sẽ để dành đến lúc những thiên thần bé nhỏ của chúng ta ra đời. Khi ấy, em sẽ gửi cho anh bức thư với tựa đề "Thư gửi bố của các con em".

P/S: Cảm ơn cuộc sống đã mang anh đến cho em. Và cảm ơn anh, anh yêu! Cảm ơn anh vì đã yêu em và đi bên em đến suốt cuộc đời.

-ST-




Bí quyết dạy con thành tài của người Do Thái

Chỉ hơn 13 triệu dân nhưng chiếm gần 40% tỷ lệ người đoạt giải Nobel, người Do Thái được xem là dân tộc thông minh nhất thế giới. Một trong những “bí quyết” là dạy con biết vượt khó, làm việc nhà, liên tục đặt câu hỏi… từ nhỏ.

Chuyên gia giáo dục sớm Lại Thị Hải Lý, người đã trực tiếp đến Isarel – đất nước của người Do Thái – để tìm hiểu về phương pháp giáo dục trẻ tại đây cho biết, cách nuôi dạy con của các bà mẹ Do Thái khá đặc biệt. Họ dành cho con “tình yêu đống lửa” – tức là sự nhen nhóm, khích lệ chứ không phải chỉ là cảm giác an toàn, bao bọc kiểu “tình yêu tử cung” như phần lớn các bà mẹ Việt.

Bà mẹ nào trên thế giới cũng yêu con, nhưng cách yêu và thể hiện tình yêu khác nhau. Giữa “Tình yêu dòng nước mát” và “tình yêu dòng máu đào”, người Israel quan niệm nước mát chỉ giải cơn khát nhất thời còn “dòng máu đào” là tình yêu con phải nhìn xa trông rộng, đem lại lợi ích suốt đời cho con, đào tạo đứa trẻ trở thành bản lĩnh, thực sự mạnh mẽ trong đường đời.

Người mẹ Do Thái nói rằng “phụ huynh 100 điểm không bằng phụ huynh 80 điểm”. Có ba điều mà người mẹ không nên làm với con là: Không thỏa mãn trước; Không thỏa mãn tức thời; Không thỏa mãn quá mức yêu cầu của con.

“Cha mẹ ẩn giấu 20% tình yêu con để trở nên lý trí, khoa học, nghệ thuật trong cách dạy con. Ở Israel có những trường quý tộc nhưng lại đào tạo và rèn luyện cho học sinh biết được khó khăn, thử thách. Có một chỉ số được các vị phụ huynh đánh giá cao ở trẻ là AQ – chỉ số vượt khó. Càng con nhà khá giả càng cần rèn luyện chỉ số này”, bà Hải Lý chia sẻ.

Người Israel tự đưa ra công thức cho chỉ số vượt khó AQ của họ là: 20% IQ + 80% (AQ + EQ) = 100% thành công. (IQ:chỉ số thông minh, EQ: chỉ số cảm xúc). Họ tin rằng điểm số tốt nghĩa là trường học tốt, trường học tốt sẽ có tấm bằng đẹp, tấm bằng đẹp sẽ có công việc tốt, nhưng công việc tốt khác với người có sự nghiệp thành công.

Những bà mẹ Do Thái luôn nhớ một câu châm ngôn “Con lừa thồ sách”, ý muốn gửi một thông điệp tới các con rằng: “Nếu chỉ đọc sách mà không ứng dụng nó trong cuộc sống thì cũng chỉ là trí tuệ chết mà thôi”.

Và vì thế, người Do Thái coi làm việc nhà là dạy trẻ cơ hội sinh tồn cơ bản. Theo một nghiên cứu của Tạp chí giáo dục Gia đình tại Israel thì tỷ lệ thất nghiệp của người không biết làm việc nhà cao hơn 15 lần người biết làm việc nhà, thu nhập bình quân của họ cũng thấp hơn 20% so với người thạo việc gia đình. Họ dạy con làm việc nhà từ nhỏ, tùy theo lứa tuổi, và thông thường, trẻ 2 tuổi đã có thể tự phục vụ bản thân.

“Người Do Thái có câu nói nổi tiếng là ‘bố mẹ đừng làm quản gia mà hãy làm quân sư cho con’ ý nói hãy chỉ hướng dẫn, tư vấn cho con, đừng quá bao bọc và làm thay con mọi việc. Tuyệt đối không rơi vào căn bệnh 421 (4 ông bà nội ngoại, 2 bố mẹ vây quanh 1 đứa trẻ) vì điều đó chẳng khác cha mẹ sẵn sàng là nô lệ của con và chỉ đầu độc con mà thôi”, bà Hải Lý chia sẻ.

Đồng quan điểm này, bà Meirav Eilon Shahar, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Israel tại Việt Nam cho rằng, trong thế giới đầy biến động hiện nay, việc giáo dục con luôn cần sự điều chỉnh và đầu tư lâu dài.

Theo bà, ở bất kỳ đâu trên thế giới, cha mẹ và giáo viên luôn là hình mẫu gần gũi của trẻ, vì thế có mối liên hệ tự nhiên, ý nghĩa giữa cha mẹ và con cái. Việc giáo dục trẻ ngày nay phức tạp hơn trước đây nhiều. Thế giới ngày nay thay đổi chóng mặt và người làm cha mẹ đôi khi không bắt kịp. Trẻ có thể tiếp cận với nhiều thông tin, có khi đi trước bố mẹ một bước, chúng ngày càng độc lập và phụ huynh không thể áp đặt, nhưng vẫn phải giữ vững vị trí là người đi đầu, hướng dẫn.

Bà cho rằng không một phương pháp giáo dục nào có thể áp dụng cho tất cả trẻ. Bản thân bà có 3 người con, con trai đầu 13 tuổi, con gái thứ hai 8 tuổi và cậu út 5 tuổi, và cũng không thể dạy các con giống nhau vì mỗi bé có một cá tính và khả năng nhận thức khác nhau.

Nhưng có một điều chung cần thực hiện là các con đều cần được tôn trọng. Bố mẹ khuyến khích trẻ đưa ra ý tưởng riêng, có thể ra ngoài những khuôn mẫu thông thường, thậm chí tranh luận với người lớn. Khuyến khích con đặt câu hỏi để giúp con luôn sáng tạo, linh động… “có lúc tôi cũng thấy hối hận khi không thể thoát ra quanh những câu hỏi bất tận của con”, bà Shahar đùa vui. Bà cũng động viên con tham gia các hoạt động ngoại khóa để trẻ phát huy các thiên hướng và những sở trường của mình.

“Khen ngợi con cũng rất cần thiết, khi con được điểm cao, lúc con thể hiện là một người bạn tốt ở trường… Với trẻ, thất bại cũng quan trọng. Phải để trẻ thử điều mới, phải biết liều lĩnh, để trẻ hiểu rằng không phải mọi điều đều thành công. Khi con làm sai, không phán xét trẻ, để trẻ học hỏi từ thất bại của chính mình và tìm ra cách có thể làm khác vào lần sau”, bà nói.

Là một nhà ngoại giao, phải đi nhiệm kỳ ở nhiều nước khác nhau, các con của bà Meirav Eilon Shahar cũng gặp nhiều khó khăn khi phải liên tục thay đổi nơi sống và học tập, tìm cách thích nghi với môi trường mới, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bà luôn dạy con tôn trọng người khác, sự khác biệt.

Đến Việt Nam 10 tháng trước, các con đều thấy mới lạ, bà không yêu cầu trẻ phải thích nghi ngay mà chỉ bảo các cháu giữ tư duy tích cực, để ý đến em út. Bé út 5 tuổi không nói được tiếng Anh nên gặp khó khăn khi đến trường, giao tiếp với bạn bè. Bà đã đặt ra một thử thách cho cậu con đầu trong việc giúp em, và cậu bé 13 tuổi đã tự nguyện đi cùng em lên xe bus, kiểm tra xem ở lớp em có làm được bài tập hay có vui chơi với các bạn không… và cháu đã làm tốt hơn cả mẹ mong đợi. Sau việc này, cháu thể hiện trách nhiệm người anh hướng dẫn em chu đáo.

“Trẻ em ngoài nghĩa vụ còn có các quyền lợi: được tôn trọng, được thất bại, được có ý kiến. Nên đặt trách nhiệm cho con nhưng chỉ vừa sức vì trẻ con luôn cần được vui chơi. Bố mẹ tạo điều kiện tốt nhất cho con, ai cũng muốn con cái thành công nhưng chỉ là người tư vấn, khuyên bảo chứ không ép buộc”, bà Shahar chia sẻ.

Hoa tím tặng bạn















Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

Giới từ và tên một số lĩnh vực

Toán: Mathematics (Maths)
Vật lý: Physics
Hóa: Chemistry
Sinh học: Biology
Địa lý: Geography
Công nghệ thông tin: Information Technology

Mỹ thuật: Fine Art
Văn học: Literature
Lịch sử: History
Kỹ thuật: Engineering
Tin học: Informatics
Công nghệ: Technology
Chính trị học: Politics
Tâm lý học: Psychology

Nhạc: Music
Thủ công: Craft
Thiên văn học: Astronomy
Kinh tế học: Economics
Khoa học xã hội: Social Science
Ngoại ngữ: Foreign language
Giáo dục thể chất: Physical Education

 

 

 HỌC CÁCH SỬ DỤNG CÁC GIỚI TỪ NHÉ

• During = trong suốt (hoạt động diễn ra liên tục)

• From = từ >< to = đến
From ... to ...= từ ... đến... (dùng cho thời gian và nơi chốn)
From time to time = đôi khi, thỉnh thoảng

• Out of = ra khỏi
Out of + noun = hết, không còn
Out of town = đi vắng
Out of date=cũ, lạc hậu >< up to date = mới, cập nhật
Out of work = thất nghiệp, mất việc
Out of the question = không thể
Out of order = hỏng, không hoạt động

• By:
Động từ chỉ chuyển động + by = đi ngang qua (walk by the library)
Động từ tĩnh + by = ở gần (your books are by the window)
by + thời gian cụ thể = trước lúc, cho đến lúc (hành động cho đến lúc đó phải xảy ra)
by + phương tiện giao thông = đi bằng
by then = cho đến lúc đó (dùng cho cả QK và TL)
by way of= theo đường... = via
by the way = một cách tình cờ, ngẫu nhiên
by the way = by the by = nhân đây, nhân tiện
by far + so sánh (thường là so sánh bậc nhất)=>dùng để nhấn mạnh
by accident = by mistake = tình cờ, ngẫu nhiên >< on purose

• In = bên trong
In + month/year
In time for = In good time for = Đúng giờ (thường kịp làm gì, hơi sớm hơn giờ đã định một chút)
In the street = dưới lòng đường
In the morning/ afternoon/ evening
In the past/future = trước kia, trong quá khứ/ trong tương lai
In future = from now on = từ nay trở đi
In the begining/ end = at first/ last = thoạt đầu/ rốt cuộc
In the way = đỗ ngang lối, chắn lối
Once in a while = đôi khi, thỉnh thoảng
In no time at all = trong nháy mắt, một thoáng
In the mean time = meanwhile = cùng lúc
In the middle of (địa điểm)= ở giữa
In the army/ airforce/ navy
In + the + STT + row = hàng thứ...
In the event that = trong trường hợp mà
In case = để phòng khi, ngộ nhỡ
Get/ be in touch/ contact with Sb = liên lạc, tiếp xúc với ai

• On = trên bề mặt:
On + thứ trong tuần/ ngày trong tháng
On + a/the + phương tiện giao thông = trên chuyến/ đã lên chuyến...
On + phố = địa chỉ... (như B.E : in + phố)
On the + STT + floor = ở tầng thứ...
On time = vừa đúng giờ (bất chấp điều kiện bên ngoài, nghĩa mạnh hơn in time)
On the corner of = ở góc phố (giữa hai phố)
Chú ý:
In the corner = ở góc trong
At the corner = ở góc ngoài/ tại góc phố
On the sidewalk = pavement = trên vỉa hè
Chú ý:
On the pavement (A.E.)= trên mặt đường nhựa
(Don’t brake quickly on the pavement or you can slice into another car)
On the way to: trên đường đến >< on the way back to: trên đường trở về
On the right/left
On T.V./ on the radio
On the phone/ telephone = gọi điện thoại, nói chuyện điện thoại
On the phone = nhà có mắc điện thoại (Are you on the phone?)
On the whole= nói chung, về đại thể
On the other hand = tuy nhiên= however
Chú ý:
On the one hand = một mặt thì
on the other hand = mặt khác thì
(On the one hand, we must learn the basic grammar, and on the other hand, we must combine it
with listening comprehension)
on sale = for sale = có bán, để bán
on sale (A.E.)= bán hạ giá = at a discount (B.E)
on foot = đi bộ

• At = ở tại
At + số nhà
At + thời gian cụ thể
At home/ school/ work
At night/noon (A.E : at noon = at twelve = giữa trưa (she was invited to the party at noon, but she
was 15 minutes late))
At least = chí ít, tối thiểu >< at most = tối đa
At once =ngay lập tức
At present/ the moment = now
Chú ý: 2 thành ngữ trên tương đương với presently nhưng presently se khác nhau về nghĩa nếu nó
đứng ở các vị trí khác nhau trong câu:
Sentence + presently (= soon): ngay tức thì ( She will be here presently/soon)
Presently + sentence (= Afterward/ and then) : ngay sau đó (Presently, I heard her leave the room)
S + to be + presently + Ving = at present/ at the moment ( He is presently working toward his Ph.D degree)
At times = đôi khi, thỉnh thoảng
At first = thoạt đầu >< at last = cuối cùng
At the beginning of / at the end of... = ở đầu/ ở cuối (dùng cho thời gian và địa điểm).
At + tên các ngày lễ : at Christmas, at Thanks Giving...
Nhưng on + tên các ngày lễ + day = on Christmas day ...
Trong dạng informal E., on trước các thứ trong tuần đôi khi bị lược bỏ: She is going to see her boss
(on) Sun. morning.
At/in/on thường được không dùng trong các thành ngữ chỉ thời gian khi có mặt: next, last, this, that,
one, any, each, every, some, all
At + địa điểm : at the center of the building
At + những địa điểm lớn (khi xem nó như một nơi trung chuyển hoặc gặp gỡ): The plane stopped 1
hour at Washington D.C. before continuing on to Atlanta.
At + tên các toà nhà lớn (khi xem như 1 hành động sẽ xảy ra ở đó chứ không đề cập đến toà nhà) :
There is a good movie at the Center Theater.
At + tên riêng các tổ chức: She works at Legal & General Insurence.
At + tên riêng nơi các trường sở hoặc khu vực đại học: She is studying at the London school of
Economics.
At + tên các hoạt động qui tụ thành nhóm: at a party/ lecture...
Một số các thành ngữ dùng với giới từ
On the beach: trên bờ biển
Along the beach: dọc theo bờ biển
In place of = Instead of: thay cho, thay vì.
For the most part: chính là, chủ yếu là = mainly.
In hope of + V-ing = Hoping to + V = Hoping that + sentence = với hi vọng là.
off and on: dai dẳng, tái hồi
all of a sudden= suddenly = bỗng nhiên
for good = forever: vĩnh viễn, mãi mãi

Kinh nghiệm học từ vựng

TẠI SAO TỪ VỰNG TIẾNG ANH RẤT QUAN TRỌNG ???

Từ vựng hết sức quan trọng vì nó truyền tải quan điểm, tư tưởng của ban. Ngữ pháp kết hợp từ lại với nhau nhưng hầu như ý nghĩa lại ở trong từ ngữ. Bạn càng biết được nhiều từ thì bạn sẽ càng giao tiếp được nhiều hơn.

Sở hữu lượng từ vựng phong phú, bạn diễn đạt được nhiều điều hơn, còn nếu chỉ giỏi nguyên ngữ pháp thì vế sau chưa chắc đã đúng. Bạn học từ vựng tiếng Anh như thế nào?

Chúng ta tăng vốn từ vựng chủ yếu bằng cách đọc thật nhiều tài liệu tiếng Anh. Là một sinh viên, bạn phải thường xuyên học và làm bài tập từ vựng. Dưới đây là mười bí quyết giúp bạn học từ vựng có hiệu quả nhanh nhất.

1. Đọc, đọc và đọc
Chúng ta học từ vựng phần lớn thông qua đọc các văn bản. Bạn càng đọc nhiều thì vốn từ vựng của bạn càng phong phú. Trong khi đọc, hãy chú ý nhiều hơn tới những từ mà bạn không biết. Trước tiên, cố gắng dựa vào văn bản để đoán nghĩa, sau đó thì mới tra từ điển. Đọc và nghe những tài liệu phức tạp là một cách giúp bạn biết thêm được nhiều từ mới.

2. Củng cố kỹ năng đọc văn bản
Một nghiên cứu cho thấy rằng phần lớn các từ được học trong văn cảnh cụ thể. Để củng cố kỹ năng hiểu từ trong văn bản thì bạn nên đặc biệt chú ý đến cách mà ngôn ngữ được sử dụng.

3. Luyện tập thật nhiều và thường xuyên
Học một từ sẽ chẳng nghĩa lý gì nếu như bạn nhanh chóng quên nó đi. Nghiên cứu cho thấy ra rằng chúng ta thường phải mất 10 đến 20 lần đọc đi đọc lại thì mới có thể nhớ được một từ. Sẽ tốt hơn nếu bạn viết từ đó ra, có thể viết vào một tờ mục lục để có thể xem lại dễ dàng. Khi viết từ thì bạn nên viết cả định nghĩa và đặt câu có sử dụng từ đó. Ngay khi bạn bắt đầu học một từ mới nào đó thì hãy sử dụng từ đó luôn.

4. Tìm được càng nhiều mối liên hệ của từ càng tốt
Để không quên từ mới thì khi học bạn nên đọc to từ đó nhằm kích thích vùng nhớ âm thanh. Bên cạnh đó bạn nên tìm thêm nhiều từ đồng nghĩa với từ đó mà bạn đã biết. Ví dụ từ significant (quan trọng, đáng kể) có một nghĩa giống với từ important, momentous, sustantial,… Ngoài ra có thể liệt kê tất cả những thứ có thể khiến bạn nghĩ đến nghĩa của từ SIGNIFICANT. Và cuối cùng bạn hãy vẽ một bức tranh để lại ấn tượng mạnh mẽ mô phỏng ý nghĩa của từ.

5. Dùng các mẹo ghi nhớ
Một ví dụ thú vị với từ EGREGIOUS (rất tồi tệ). Nghĩ đến câu trứng ném vào chúng tôi (EGG REACH US)- hãy tưởng tượng chúng ta vừa phạm sai lầm tệ đến mức bị ném trứng và một quả trứng thối bay vào người chúng tôi (rotten EGG REACHes US). Bức tranh thú vị bằng ngôn ngữ này sẽ giúp bạn nhớ nghĩa của từ nhanh và lâu hơn. Người học cũng cảm thấy thú vị. Tương tự, bạn hãy tìm cho mình phương thức học phù hợp nhất. Mỗi người học theo cách khác nhau.

6. Dùng từ điển để tìm nghĩa những từ mà bạn không biết
Nếu bạn có sẵn chương trình tra từ trên máy tính thì hãy mở sẵn ra. Chúng ta có rất nhiều các dịch vụ hỗ trợ tra từ trên internet. Bạn nên tìm và sửa dụng chúng để tra những từ mà bạn không chắc chắn về nghĩa. Sử dụng từ điển đồng nghĩa khi bạn muốn tìm từ phù hợp nhất.

7. Chơi những trò chơi liên quan đến từ ngữ
Chơi trò chơi đố chữ như Scrabble, Boggle và ô chữ (crossword puzzles). Những trò chơi như thế này và nhiều trò chơi khác đều có sẵn trong máy tính vì thế mà bạn có thể tự chơi chứ không cần phải có người chơi cùng.Bạn cũng hãy thử dùng Từ điển điện tử Franklin. Đây là từ điển cài nhiều trò chơi đố chữ.

8. Sử dụng danh sách từ vựng
Đối với những sinh viên chú trọng nhiều tới từ vựng thì có rất nhiều tài liệu đáp ứng được nhu cầu này như SAT và GRE. Trên Internet cũng có nhiều trang học từ vựng hấp dẫn, thậm chí một số trang còn hỗ trợ tính năng gửi từ vựng cho bạn qua email mỗi ngày.

9. Thực hiện các bài kiểm tra từ vựng
Chơi các trò chơi như đã đề cập ở phần 7 để kiểm tra kiến thức của bạn đồng thời cũng giúp bạn học thêm được nhiều từ mới. Ngoài ra bạn cũng có thể làm các bài kiểm tra trình độ như SAT, GMAT, TOEIC, … Mỗi lần làm kiểm tra là một lần bạn biết được sự tiến bộ trong quá học tập của mình.

10. Tạo hứng thú khi học từ vựng
Học để đánh giá sự khác biệt tinh vi giữa các từ. Ví dụ cùng có nghĩa là “bao hàm” nhưng hai từ “denote” và “connote” lại không hoàn toàn giống nhau về mặt sắc thái biểu cảm. Học cách diễn đạt ý muốn nói bằng lời và khám phá cảm giác sung sướng khi có thể thổ lộ hết cảm xúc trong từng câu chữ. Biết đâu có khi vốn từ ngữ giàu có, phong phú lại quyết định tương lai của bạn.

Like và share nếu bạn thấy bài viết hữu ích nhé!

DANH ĐỘNG TỪ

Chúng ta đã học về động từ mà theo sau là Ving. Giờ tìm hiểu về DANH ĐỘNG TỪ ( REGUND):
Danh động từ được sử dụng trong các trường hợp sau:
1. Dùng làm chủ ngữ của câu
- Being loved by you is the most wonderful thing I have ever had. (^_^) ( Được cậu yêu là điều tuyệt vời nhất có được)
- Learning English is very fun.
2. Dùng như phần bổ sung cho động từ to be
- One of my interest is talking to you.
- Loving someone is touching their heart ( just my opinion ^_^). ( yêu ai đó là chạm được vào trái tim họ)
3. Đi sau giới từ
-She is afraid of walking alone in the dark. ( cô ấy sợ đi một mình trong bóng tối --> do not leave a alone in the dark )
- Do you interested in learning English with me???????
4. Sau một số động từ: love, like, enjoy, begin, start,avoid prefer,....
Remember, forget, try, stop,...( các động từ này có thể ở dạng to V hoặc Ving và nghĩa của chúng khác nhau, tớ sẽ phân biệt sau nhé)
- I forget calling you for lunch. I am sorry ( Tớ quên là đã hẹn bạn đi ăn, tớ xin lỗi)
- I like walking in the rain. ( tôi thích đi bộ dưới mưa).
4. Sau một số cụm từ:
Can't help( không thể không, không thể nhịn)
Can't stand = can't bear : không thể chịu
It's no use/ good: vô ích, không ích gì.
....
- I can't help falling in love with you ( tớ không thể không iu cậu) câu này thì nổi tiếng rồi.
- It is no use telling him to give up smoking. ( thật vô ích khi khuyên anh ta bỏ thuốc)
5. Dùng trong danh từ ghép. Trường hợp này khá khó và dễ gây nhầm lẫn.
A swimming pool, washing machine, driving lesson,...
Đây không phải tính từ hay động từ thì hiện tại tiếp diễn. Các bạn có thể thấy swimming pool = pool for swimming, washing machine= machine for washing,...
Nếu viết dc ở dạng N for Ving thì đó là danh động từ.
- I do not have to do the washing anymore because now I have a washing machine. ( tôi không phải tự giặt quần áo nữa vì giờ tôi đã có máy giặt)
- I prefer swimming in the ocean to in a pool. ( tôi thích bơi ở biển hơn là bơi ở bể bơi.
Giờ mn đặt câu đi nào if you agree.

cấu trúc khó

Chúng ta sẽ cùng ngâm cứu 5 cấu trúc thường bị nhầm lẫn, dzô nào"

1. In case of và in case:
a.In case of + N (= If there is/are )
Eg: In case of a fire, you should use stair.
(= If there is a fire, you shoulh use stair)
b. In case + S + do/does/did + V (= Because it may/might happen)
Eg: He took an umbrella in case it rained
(= He took an unbrella because it might rain)

2. As a result và as a result of:
a. As a result (+ clause) = therefore
Eg: Bill had not been working very hard during the course. As a result, he failed the exams.
(= Bill had not been working very hard during the course. Therefore, he failed the exams)
b. As a result of (+ noun phrase) = because of
Eg: The accident happened as a result of the fog.
(= The accident happened because of the fog)

3. Hardly / Scarelyvà no sooner: (với nghĩa ngay khi)
a. Hardly/ Sccarely + clause 1 + when + clause 2
Eg: Hardly will he come when he wants to leave.
b. No sooner + clause 1 + than + clause 2
Eg: No sooner does she earn some money than she spends it all.

4. Like doing something và would like to do something
a. Like doing something:
Ta dùng cấu trúc này để nói về một sở thích
Eg: I like playing guitar. = My hobby is playing guitar.
b. Would like to do something:
Ta dùng cấu trúc này để nói về sở thích nhất thời
Eg: I'd like to drink some coffee. = I want to drink some coffee now.

5. Not like to do something và not like doing something
a. Not like to do something:
Ta dùng cấu trúc này để nói về một việc ta không thích và không làm
Eg: I don't like to go out with you.
b. Not like doing something:
Ta dùng cấu trúc này để nói đến một việc ta không thích nhưng vẫn phải làm
Eg: I don't like doing my homework.

FEW ... LITTLE

CÁCH DÙNG A FEW & FEW, A LITTLE & LITTLE:

1. A FEW & FEW: chỉ dùng cho những danh từ đếm được số nhiều
- A few mang nghĩa khẳng định: có 1 vài, đủ để dùng
E.g: I have a few friends in France (Tôi có 1 vài người bạn ở Pháp => thực sự có và mang nghĩa khẳng định)
- Few (=not many) mang nghĩa phủ định: hầu như không có
E.g: I have few friends in France (Tôi có rất ít bạn ở Pháp => gần như là không có)
2. A LITTLE & LITTLE: chỉ dùng cho những danh từ không đếm được
- A little mang nghĩa khẳng định: có 1 ít, đủ để dùng
E.g: I have a little money, I wanna buy some books (Tôi có 1 ít tiền, tôi muốn mua 1 vài quyển sách=> khẳng định tôi có tiền, có 1 ít tiền)
I can’t buy this electric bicycle. I have little money (Tôi không thể mua chiếc xe đạp điện này. Tôi không có đủ tiền => Có rất ít, không thể sánh với giá trị của chiếc xe được
- Little (= not much) mang nghĩa phủ định: hầu như không có
*Note:
- Nếu danh từ ở trên đã được nhắc đến thì ở dưới chỉ cần dùng (a) little, (a) few như đại từ là đủ
E.g: Are you ready in money? Yes, a little
(Bạn có sẫn tiền không? Vâng, tôi có 1 ít
- Trong các bài tập Tiếng Anh, nếu gặp:
+ only, quite thì chọn a few, a little
• quite a few+ danh từ đếm được = quite a lot of +danh từ = quite a bit+ danh từ không đếm được: khá nhiều
• only a few = only a little :có rất it (nhấn mạnh)
E.g: There are only a few houses
(Chỉ có vài ngôi nhà thôi)
+ very, so, too thì chọn little, few
E.g: My boyfriend has very few friends
(Bạn trai tôi có rất ít bạn)

Thuyết trình

NHỮNG CÂU CẦN BIẾT KHI THUYẾT TRÌNH TIẾNG ANH

I _ INTRODUCING YOURSELF – TỰ GIỚI THIỆU
-----------------------------------------------------------

Good morning, ladies and gentlemen.
(Chào buổi sáng quí ông/bà)

Good afternoon, everybody
(Chào buổi chiều mọi người.)

I’m … , from [Class]/[Group].
(Tôi là…, đến từ…)

Let me introduce myself; my name is …, member of group 1
(Để tôi tự giới thiệu, tên tôi là …, là thành viên của nhóm 1.)

II _ INTRODUCING THE TOPIC – GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ
-------------------------------------------------------------------

Today I am here to present to you about [topic]….(Tôi ở đây hôm nay để trình bày với các bạn về…)

I would like to present to you [topic]….(Tôi muốn trình bày với các bạn về …)

As you all know, today I am going to talk to you about [topic]….(Như các bạn đều biết, hôm nay tôi sẽ trao đổi với các bạn về…)

I am delighted to be here today to tell you about…(Tôi rất vui được có mặt ở đây hôm nay để kể cho các bạn về…)

III _ INTRODUCING THE STRUCTURE– GIỚI THIỆU CẤU TRÚC BÀI THUYẾT TRÌNH
---------------------------------------------------------------------

My presentation is divided into x parts.(Bài thuyết trình của tôi được chia ra thành x phần.)

I'll start with / Firstly I will talk about… / I'll begin with(Tôi sẽ bắt đầu với/ Đầu tiên tôi sẽ nói về/ Tôi sẽ mở đầu với)

then I will look at …(Sau đó tôi sẽ chuyển đến phần)

Next,… (tiếp theo )

and finally…(cuối cùng)

IV _ BEGINNING THE PRESENTATION – BẮT ĐẦU BÀI THUYẾT TRÌNH
--------------------------------------------------------------------

I'll start with some general information about … (Tôi sẽ bắt đầu với một vài thông tin chung về…)

I'd just like to give you some background information about… (Tôi muốn cung cấp cho bạn vài thông tin sơ lượt về…)

As you are all aware / As you all know…(Như các bạn đều biết…)

V _ ORDERING – SẮP XẾP CÁC PHẦN
----------------------------------------------

Firstly...secondly...thirdly...lastly... (Đầu tiên…thứ hai … thứ ba…cuối cùng…)

First of all...then...next...after that...finally... (Đầu tiên hết … sau đó…tiếp theo…sau đó…cuối cùng )

To start with...later...to finish up... (Bắt đầu với … sau đó…và để kết thúc…)

VI _ FINISHING ONE PART… - KẾT THÚC MỘT PHẦN
-----------------------------------------------------------------

Well, I've told you about... (Vâng, tôi vừa trình bày với các bạn về phần …)

That's all I have to say about... (Đó là tất cả những gì tôi phải nói về phần …)

We've looked at... (Chúng ta vừa xem qua phần …)

VII _ … STARTING ANOTHER PART – BẮT ĐẦU MỘT PHẦN KHÁC.

Now we'll move on to... (Giờ chúng ta sẽ tiếp tục đến với phần…)

Let me turn now to... (Để thôi chuyển tới phần…)

Next... (Tiếp theo…)

Let's look now at...(Chúng ta cùng nhìn vào phần…)

VIII _ ENDING – KẾT THÚC
----------------------------------

I'd like to conclude by… (Tôi muốn kết luật lại bằng cách …)

Now, just to summarize, let’s quickly look at the main points again. (Bây giờ, để tóm tắt lại, chúng ta cùng nhìn nhanh lại các ý chính một lần nữa.)

That brings us to the end of my presentation. (Đó là phần kết thúc của bài thuyết trình của tôi.)

IX _ THANKING YOUR AUDIENCE. – CẢM ƠN THÍNH GIẢ
-----------------------------------------------------------------------

Thank you for listening / for your attention. (Cảm ơn bạn đã lắng nghe/ tập trung)

Thank you all for listening, it was a pleasure being here today. (Cảm ơn tất cả các bạn vì đã lắng nghe, thật là một vinh hạnh được ở đây hôm nay.)

Well that's it from me. Thanks very much. (Vâng, phần của tôi đến đây là hết. Cảm ơn rất nhiều.)

Many thanks for your attention. (Cảm ơn rất nhiều vì sự tập trung của bạn.)

May I thank you all for being such an attentive audience. (Cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã rất tập trung.)

Đại từ không xác định

ĐẠi TỪ BẤT ĐỊNH:

Đại từ bất định không xác định 1 người/ vật nào rõ ràng và luôn ở dạng số ít.
Có một số đại từ bất định sau:

1. Everyone = everybody (mọi người), everything ( mọi cái, mọi vật)
E.g: The police questioned everybody in the room (Cảnh sát hỏi cung mọi người trong phòng)
Life’s great! I’ve got everything! (Cuộc đời thật tuyệt diệu! Tôi có mọi thứ!)
2. Someone /somebody (1 người nào đó), something (1 cái gì, 1 điều gì đó) luôn ở dạng số ít & chỉ dùng trong câu khẳng định
E.g: There is someone over there (Ở đằng kia có người)
Somebody telephoned (Ai đó đã điện thoại đến)
“I’m bored “- “Well, do something!” (“Tôi chán quá!” – “ Vậy thì làm việc gì đó đi!”
*Note: Some- cũng được dùng trong câu hỏi khi người nói tin chắc câu trả lời là khẳng định, hay muốn câu trả lời khẳng định
E.g: Would you like something to eat? (Ông có muốn ăn cái gì không? => nghĩ à tôi hy vọng là ông sẽ ăn)
3. Anyone /anybody ( 1 ai đó, bất cứ ai ), anything (1 cái gì đó, bất cứ cái gì): chỉ dùng trong câu phủ định hoặc nghi vấn & luôn ở dạng số ít
E.g: I didn’t hear anybody (Tôi không nghe thấy ai cả)
Is there anyone at home? (Có ai ở nhà không?)
*Note:
- Any- không được dung làm chủ từ trong câu phủ định, phải dung no-
E.g: Anything didn’t happen => Sai mà phải viết dung là: Nothing happened ( Không có gì xảy ra)
- Any- có thể được dùng trong câu khẳng định, có nghĩa là “bất kỳ…”
E.g: Anyone will tell you the way (Bất kỳ ai cũng sẽ chỉ đường cho bạn)
- Any- cũng được dùng sau “if” hay các từ có ý nghĩa phủ định
E.g: Tell me if you see anything different (Cho tôi biết nếu anh thấy điều gì khác)
He seldom says anything (Anh ấy ít khi nói điều gì)
I can do it without anybody’s help (Tôi có thể làm mà không cần ai giúp đỡ)
4. No one /nobody (= not anyone/not anybody: không người nào), nothing ( = not any thing: không cái gì): chỉ dùng trong câu khẳng định và câu nghi vấn, tự nó mang nghĩa phủ định
E.g: There isn’t anything under the table (= There is nothing under the table)
=> Note:
- Khi nhắc lại một đại từ bất đinh chỉ người, lối văn sang trọng sẽ dùng his, him, he hoặc he or she, his or her, him or her (để cho nam nữ bình quyền).
E.g: Everybody has his (or her) dream. (Mọi người đều có ước mơ của mình)
Everybody looked after himself (or herself ) (Ai cũng tự chăm sóc lấy mình)
- Nhưng văn nói lại dùng they, them, their
E.g: If anybody telephone, ask them if they can call again tomorrow
(Nếu ai gọi điện thì hỏi xem ngày mai họ có thể gọi lại hay không)
- Tính từ phải đứng sau đại từ bất định.
E.g: I need someone practical (Tôi cần 1 người có óc thực tiễn)
- Tính từ “else” (khác) chỉ theo sau đại từ bất định, không dùng với 1 từ nào khác & “else” cũng có thể đứng trước “ ‘s”
Eg: No one else’s luggage was opened (Không có hành lý của ai bị mở ra)
- Đại từ bất định chỉ người có thể được dùng trong sở hữu cách
E.g: That was nobody’s business (Việc đó chẳng phải của ai)
I would defend anyone’s rights ( Tôi sẽ bảo vệ quyền lợi của bất kì ai)

Trọng âm

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỌNG ÂM TRONG TIẾNG ANH:

[Đối với từ đơn]:

1/ Danh từ và tính từ có 2 âm tiết thì nhấn ở âm thứ I

=> e.g. 'beauty, 'music, 'tired, 'angry,...

2/ Động từ có 2 âm tiết nhấn âm thứ II

=> e.g. comp'lete, de'sign, su'pport,...

3/ Các từ tận cùng là -ic(s), -sion, -tion nhấn âm thứ II từ cuối đến lên

=> e.g. 'logic, eco’nomics, com'pression, pro'fession, re'lation, so'lution,...

4/ Các từ tận cùng là -cy, -ty, -phy, -gy, -al nhấn âm thứ III từ cuối đếm lên

=> e.g. de’cocracy, relia’bility, bi’ology, pho’tography, se’curity, po’litical, ‘critical, eco’nomical,...

5/ Các từ có 3 âm tiết trở lên, trọng âm cũng rơi vào âm tiết thứ III từ cuối đếm lên

=> e.g. e’conomy, ‘industry, in’telligent, ’specialise, ...

[Đối với từ ghép]:

6/ Danh từ ghép có trọng âm rơi vào âm đầu I

=> e.g. ‘penholder, ‘blackbird, ‘greenhouse, ‘boyfriend,...

7/ Tính từ ghép có trọng âm rơi vào âm tiết thứ II

=> e.g. bad-’tempered, old-’fashioned, one-’eyed, home’sick, well-’done,...

8/ Động từ ghép có trọng âm rơi vào phần thứ II.

=> e.g. over’look, over'react, mal’treat, put’across,…

[Các trường hợp đặc biệt]:

9/ Các từ vay mượn từ tiếng Pháp (có hậu tố ~ee, ~eer ~aire, ~que) thì phải áp dụng theo tiếng Pháp: các hậu tố đó mang trọng âm (vậy trọng âm của từ rơi vào âm tiết cuối cùng).

=> e.g. absen’tee, volun'teer, questio’naire, tech’nique, pictu’resque, ...

*Note: Có 2 ngoại lệ là com’mittee, ‘coffee.

10/ Ngoại lệ:

- Có những từ dài có 4 âm tiết trở lên có thể có 2 trọng âm chính và phụ, e.g. in,dustriali’sation, inter’national,...

- Trong vài trường hợp, trọng âm của từ sẽ thay đổi khi tự loại thay đổi, e.g. ‘comment (n) -> com’ment (v), perfect (adj) -> pre’fect (v),...

- Ngược lại, có những từ nếu thay đổi trọng âm thì nghĩa sẽ thay đổi, e.g. ‘invalid (người tàn tật), in’valid (không còn giá trị nữa).

VIẾT TẮT TRÊN MẠNG

Đây là những từ viết tắt tiếng Anh rất thường gặp như BTW, LOL, ,...Có đôi lúc các mem bối rối không biết nó là gì đúng không nào? Sau đây là tổng hợp những từ viết tắt người nước ngoài hay sử dụng nhất trên internet:

1. 2u = to you: đến bạn
2. 2u2 = to you too: cũng đến bạn
3. 2moro = tomorrow: ngày mai
4. 4evr = forever: mãi mãi
5. Abt = about: về
6. atm = at the moment: vào lúc này, chứ không phải là máy rút tiền ATM đâu nhé :))
7. awsm = awesome: tuyệt vời
8. ASL plz = age, sex, location please: xin cho biết tên, tuổi, giới tính
9. Asap = as soon as possible: càng sớm càng tốt
10. B4 = before: trước
11. B4n = bye for now: Bây giờ phải chào (tạm biệt)
12. bcuz = because: bởi vì
13. bf = boyfriend: bạn trai
14. bk = back: quay lại
15. brb = be right back: sẽ trở lại ngay
16. bff = best friend forever: Mãi mãi là bạn tốt
17. btw = by the way: tiện thể
18. C = see: nhìn
19. Cld = could có thể (thời quá khứ của “can”)
20. cul8r = see you later: gặp lại bạn sau
21. cya = see ya = see you again: gặp lại bạn sau
22. def = definitely: dứt khoát
23. dw = Don't worry : không sao, đừng lo lắng
24. F2F = face to face: gặp trực tiếp ( thay vì qua điện thoại hay online)
25. fyi = for your information: để bạn biết rằng
26. G2g ( hoặc “gtg”) = got to go: phải đi bây giờ
27. GAL = get a life: hãy để cho tôi/cô ấy/anh ấy/họ yên
28. gd =good: tốt, tuyệt
29. GGP = gotta go pee: tôi phải đi tè (ý là nói lẹ lên) :))
30. Gimmi = give me: đưa cho tôi
31. Gr8 = great: tuyệt
32. GRRRRR = growling (tiếng): gầm gừ
33. gf = girlfriend: bạn gái
34. HAK (hoặc “H&K”) = hugs and kisses: ôm hôn thắm thiết
35. huh = what: cài gì hả
36. idk = i don't know: tôi không biết
37. ilu or ily = i love you: tôi yêu bạn
38. ilu2 or ily2: tôi cũng yêu bạn
39. ilu4e or ily4e: anh/em mãi yêu em/anh
40. init = isn’t it: có phải không
41. kinda = kind of: đại loại là
42. l8 = late: muộn
43. l8r = later: lần sau
44. lemme = let me: để tôi
45. lol = laugh out loud: cười vỡ bụng
46. lmao = laughing my ass off: cười ... - tạm dịch là - rụng mông
47. msg = message: tin nhắn
48. n = and: và
49. nvr = never: không bao giờ
50. Ofcoz = of course: dĩ nhiên
51. omg = oh my god: Chúa ơi
52. Pls ( hoặc “plz”) = please: làm ơn
53. rofl = roll on floor laughing: cười lăn ra sàn
54. r = are: (nguyên thể là “to be”) thì, là
55. soz = sorry: xin lỗi
56. Sup = What's up: Vẫn khỏe chứ?
57. Ths = this: cái này
58. Tks (hoặc Tnx, hay Thx) = thanks: cảm ơn
59. ty = thank you: cảm ơn bạn
60. U = you: bạn/các bạn
61. U2 = you too: bạn cũng vậy
62. Ur = your: của bạn
63. vgd = very good: rất tốt
64. W8 = wait: Hãy đợi đấy
65. Wanna = want to: muốn
66. xoxo = hugs and kisses: ôm và hôn nhiều

cách dùng từ

CÁCH SỬ DỤNG CÁC LIÊN TỪ WHEN, AS SOON AS, WHILE, JUST AS VÀ UNTIL

Chúng ta sử dụng when + thì hiện tại để nối kết các sự kiện mà chắc chắn hoặc rất có thể xảy ra trong tương lai.
When I get back, I’ll tell you all about my trip.
I’ll cook dinner when I get home.
Chúng ta sử dụng when + thì quá khứ để nối kết các sự kiện mà đã xảy ra trong quá khứ.
When I saw the pollution in the city, I was very disappointed.
I screamed when the man grabbed my arm.
Chúng ta sử dụng just as để nói về 2 hành động hoặc sự kiện ngắn mà đã xảy ra gần chính xác cùng thời điểm.
The bus pulled away from the bus stop just as I arrived!
It started to rain just as we left.
Chúng ta sử dụng while để diễn tả 2 hành động hoặc sự kiện dài mà đã đang xảy ra vào thời điểm cùng với nhau một cách chính xác.
While I was talking on the phone, they were calling for all passengers to board the bus to the beach.
There were lots of people trying to sell me things while I was waiting for the bus.
Chúng ta sử dụng until hoặc till để đếm số lượng thời gian đến 1 sự kiện tương lai – thông thường 1 sự kiện mà quan trọng hoặc chúng ta hồi hộp về nó.
It’s only 2 months until my summer vacation.
There are only 3 weeks till the wedding. I need to buy a present.
It’s only 5 minutes until the game starts. You’d better hurry up if you want to see it!
Chúng ta sử dụng until và till để diễn tả 1 khoảng thời gian từ cột mốc này đến cột mốc khác.
I had to wait from 9:00 in the morning till 3:00 in the afternoon for the next bus.
We have class from 8:00 until 10:00.
Ghi chú rằng till là cách ngắn đến nói until. Bạn có thể sử dụng chúng thay đổi với nhau, mặc dù until thì trang trọng hơn 1 chút.
Chúng ta sử dụng as soon as để diễn tả 1 hành động mà đã được thực hiện ngay tức thì sau 1 hành động khác trong quá khứ.
I called Mom as soon as I arrived to let her know that I was ok. (Tôi đã đến nơi. Tôi gọi điện cho Mẹ ngay lập tức).
Chúng ta cũng sử dụng as soon as để diễn tả 1 hành động mà sẽ được thực hiện ngay tức thì sau 1 hành động khác trong tương lai.
I’ll call you as soon as I get home. (Tôi sẽ về nhà. Tôi sẽ gọi bạn ngay lập tức.)


 Lâu quá.--- That's too long.

Nó lâu quá rồi.---It has been a long time.

Lâu quá không gặp.---Long time no see.

Sao lâu quá vậy?---Why so long?

Lâu quá rồi nhỉ?---It has been quite a while, hasn't it?

Thế thì lâu quá.---That's such a long time.

Sao lại lâu quá vậy?---Why is it taking so long?

Có lâu quá không vậy?---Is it so long?

DANH NGÔN VỀ TÌNH YÊU

Những Câu Danh Ngôn Về Tình Yêu Hay Bằng Tiếng Anh

1. I love you not because of who you are, but because of who I am when I am with you
-Tôi yêu em không phải vì em là ai, mà là vì tôi sẽ là người thế nào khi ở bên em

2. No man or woman is worth your tears, and the one who is, won't make you cry
-Không có ai xứng đáng với những giọt nước mắt của bạn, người xứng đáng với chúng thì chắc chắn không để bạn phải khóc

3. Just because someone doesn't love you the way you want them to, doesn't mean they don't love you with all they have
-Nếu một ai đó không yêu bạn được như bạn mong muốn, điều đó không có nghĩa là người đó không yêu bạn bằng cả trái tim và cuộc sống của họ

4. A true friend is someone who reaches for your hand and touches your heart
-Người bạn tốt nhất là người ở bên bạn khi bạn buồn cũng như lúc bạn vui

5. Never frown, even when you are sad, because you never know who is falling in love with your smile
-Đừng bao giờ tiết kiệm nụ cười ngay cả khi bạn buồn, vì không bao giờ bạn biết được có thể có ai đó sẽ yêu bạn vì nụ cười đó

6. Don't waste your time on a man/woman, who isn't willing to waste their time on you
-Đừng lãng phí thời gian với những người không có thời gian dành cho bạn

7. Maybe God wants us to meet a few wrong people before meeting the right one, so that when we finally meet the person, we will know how to be grateful
-Có thể Thượng Đế muốn bạn phải gặp nhiều kẻ xấu trước khi gặp người tốt, để bạn có thể nhận ra họ khi họ xuất hiện

8. Don't try so hard, the best things come when you least expect them to.
-Đừng vội vã đi qua cuộc đời vì những điều tốt đẹp nhất sẽ đến với bạn đúng vào lúc mà bạn ít ngờ tới nhất

9.You know you love someone when you cannot put into words how they make you feel.
-Khi yêu ai ta không thể diễn tả được cảm giác khi ở bên cô ta thì mới gọi là yêu.

10. All the wealth of the world could not buy you a frend, not pay you for the loss of one.
-Tất cả của cải trên thế gian này không mua nổi một người bạn cũng như không thể trả lại cho bạn những gì đã mất.

11. A great lover is not one who lover many, but one who loves one woman for life.
-Tình yêu lớn không phải yêu nhiều người mà là yêu một người và suốt đời.

12. Believe in the sprit of love… it can heal all things.
-Tìn vào sự bất tử của tình yêu điều đó có thể hàn gắn mọi thứ.

13. Don’t stop giving love even if you don’t receive it. Smile anf have patience.
-Đừng từ bỏ tình yêu cho dù bạn không nhận được nó. Hãy mỉm cười và kiên nhẫn.

14. You know when you love someone when you want them to be happy event if their happiness means that you’re not part of it.
-Yêu là tìm hạnh phúc của mình trong hạnh phúc của người mình yêu.

15. Frendship often ends in love, but love in frendship-never
-Tình bạn có thể đi đến tình yêu, và không có điều ngược lại.

16. How can you love another if you don’t love yourself?
-Làm sao có thể yêu người khác. Nếu bạn không yêu chính mình.

17. Hate has a reason for everithing bot love is unreasonable.
-Ghét ai có thể nêu được lý do, nhưng yêu ai thì không thể.

CẶP TỪ DỄ NHẦM LẪN

10 Cặp Từ Dễ Nhầm Lẫn Trong Tiếng Anh ]

Trước hết, để phân biệt được các cặp từ, bạn phải biết rõ từ đó thuộc loại từ nào (danh từ, động từ, tính từ, giới từ…). Và bạn cũng nên nhớ rằng một từ thì có thể giữ nhiều chức năng trong câu.

1. Bring / Take
Để phân biệt sự khác nhau giữa bring và take thì bạn nên dựa vào hành động được thực hiện so với vị trí của người nói.
Bring nghĩa là "to carry to a nearer place from a more distant one." (mang một vật, người từ một khoảng cách xa đến gần người nói hơn)
Take thì trái lại "to carry to a more distant place from a nearer one." (mang một vật, người từ vị trí gần người nói ra xa phía người nói.)
Mời các bạn phân biệt qua những ví dụ đúng và sai sau đây:
Incorrect: Bring this package to the post office.
Correct: Take this package to the post office. (Đem gói hàng này đến bưu điện nhé!)
Incorrect: I am still waiting for you. Don’t forget to take my book.
Correct: I am still waiting for you. Don’t forget to bring my book.(Mình vẫn đang đợi cậu đấy. Đừng quên mang sách đến cho mình nhé!)

2. As / Like
Khi mang nghĩa là giống như, như, like và as gây không ít bối rối cho người học. Quy tắc dễ nhớ nhất là chúng ta hay dùng like như là một giới từ chứ không phải là liên từ. Khi like được dùng như giới từ, thì không có động từ đi sau like. Nếu có động từ thì chúng ta phải dùng as if. Liên từ as nên dùng để giới thiệu một mệnh đề.
Hãy xem những ví dụ đúng và sai sau:
Incorrect: It sounds like he is speaking Spanish.
Correct: It sounds as if he is speaking Spanish. (Nghe có vẻ như anh ta đang nói tiếng Tây Ban Nha.)
Incorrect: John looks as his father.
Correct: John looks like his father. (Anh ta giống bố anh ta lắm)
Incorrect: You play the game like you practice.
Correct: You play the game as you practice. (Cậu chơi trận này hệt như cậu thực hành nó vậy)

3. Among / Between
Chúng ta dùng between để nói ai đó hoặc vật gì ở giữa 2 người, vật, và among trong trường ở giữa hơn 2 người, vật.
Incorrect: The money will be divided between Sam, Bill, and Ted.
Correct: The money will be divided among Sam, Bill, and Ted. (Tiền sẽ được chia cho Sam, Bill và Ted.)

4. Farther / Further
Chúng ta dùng farther khi nói đến khoảng cách có thể đo đạc được về mặt địa lý, trong khi đó furtherdùng trong những tình huống không thể đo đạc được.
Ví dụ:
It is farther when I go this road. (Mình đi đường này thì sẽ xa hơn.)
I don’t want to discuss it anyfurther. (Mình không muốn bàn về nó sâu hơn.)
You read further in the book for more details. (Để biết thêm chi tiết thì các em đọc thêm trong sách.)

5. Lay / lie?
Lay có nhiều nghĩa nhưng nghĩa phổ biến là tương đương với cụm từ: put something down (đặt, để cái gì xuống).
Ví dụ:
Layyour book on the table. Wash the dishes. Come on! (Hãy đặt sách lên trên bàn. Đi rửa bát. Mau lên nào!)
Nghĩa khác của Lay là "produce eggs": đẻ trứng
Ví dụ:
Thousands of turtles drag themselves onto the beach and lay their eggs in the sand. (Hàng ngàn con rùa kéo nhau lên bãi biển và đẻ trứng trên cát.)
Lie: nghĩa là "nằm"
Ví dụ:
lie in bed (nằm trên giường)
lay down on the couch. (Nằm trên ghế dài)
lie on a beach (Nằm trên bãi biển)
Lie còn có nghĩa là speak falsely: nói dối
Ví dụ:
I suspect he lies about his age. (Tôi nghi ngờ là anh ta nói dối về tuổi của anh ta.)
Lí do mà người học tiếng Anh hay nhầm lẫn giữa lay và lie là bởi dạng quá khứ và quá khứ phân từ của chúng khá giống nhau.

6. fun/ funny
Cả 2 tính từ trên đều là tính từ mang tính tích cực
fun: ám chỉ đến điều gì đó thú vị, làm cho người khác thích thú
Ví dụ:
Going to the park with friends is fun. (Đi chơi công viên với bạn bè thật thích thú.)
funny: tính từ này dùng để nói điều mà làm chúng ta cười
Ví dụ:
The comedy I saw last night was really funny. I laughed and laughed. (Vở hài kịch mình xem tối qua thật sự là hài hước. Mình cười và cứ cười thôi.)

7. lose / loose
2 từ này thường gây nhầm lẫn trong ngôn ngữ viết. Tuy nhiên, chúng mang ý nghĩa hòan tòan khác nhau.
lose: là động từ thì hiện tại, dạng quá khứ và quá khứ phân từ đều là lost. Lose có hai nghĩa:
Lose: mất cái gì đó
Ví dụ:
Try not to lose this key, it"s the only one we have. (Cố gắng đừng để mất cái chìa khóa này, đó là cái duy nhất chúng ta có.)
Lose: thua, bị đánh bại (thường trong thể thao, trận đấu.)
Ví dụ:
I always lose when I play tennis against my sister. She"s too good. (Tôi luôn bị đánh bại khi chơi tennis với chị gái tôi. Chị ấy quá cừ.)
Loose: là tính từ mang nghĩa "lỏng, rộng, không vừa", trái nghĩa với "tight" (chặt)
Ví dụ:
His shirt is too loose because he is so thin. (Áo sơ mi này rộng quá bởi vì anh ta quá gầy.)

8. advise / advice
Cả hai từ trên nghĩa giống nhau, chỉ khác về mặt từ vựng. Advicelà danh từ: lời khuyên. Advise là động từ: khuyên bảo.
Ví dụ:
She never listens to my advice. (Cô ta không bao giờ nghe lời khuyên của tôi cả.)
I adviseyou to spend more time planning projects in the future. (Mình khuyên cậu nên dành nhiều thời gian để phác thảo dự án cho tương lai.)

9. embarrassed/ ashamed
Sự khác biệt giữa hai tính từ trên là ở chỗ tính từ ashamed có tính chất mạnh hơn, thường dùng trong những tình huống nghiêm trọng.
Embarrassed: cảm thấy ngượng, bối rối vì hành động mình đã làm hoặc người khác làm.
Ví dụ:
I felt embarrassed when I fell over in the street. Lots of people saw me fall. My face turned red. (Mình cảm thấy ngượng khi ngã xuống đường. Rất nhiều người nhìn mình. Mặt mình cứ đỏ lên.)
Ashamed: cảm thấy hổ thẹn hoặc là rất xẩu hổ về hành động của mình.
Ví dụ:
I am ashamed to tell you that I was arrested by the police for drink-driving.
(Mình thật xấu hổ khi nói với bạn rằng mình bị cảnh sát đuổi vì tội lái xe trong lúc say rượu.)

10. lend/ borrow
Động từ lendvà borrow mặc dù dùng trong tình huống giống nhau, nhưng chúng lại mang nghĩa ngược nhau.
Lend: đưa cho ai đó mượn cái gì và họ sẽ trả lại cho bạn khi họ dùng xong.
Ví dụ:
I will lend you my car while I am away on holiday. (Mình sẽ cho cậu mượn xe khi mình đi nghỉ.)
Borrow: mượn cái gì của ai với ý định sẽ trả lại trong thời gian ngắn.
Ví dụ:
Can I borrowyour pen, please? (Mình có thể mượn cậu cái bút được không?)

QUẢ QUẢ QUẢ

Tên một số loại quả trog tiếng Anh SHARE về lẹ nào ^^

Bòng bong: Duku, langsat
Bơ: Avocado
Bưởi: Grapefruit, pomelo
Cam: Orange
Chanh: Lemon
Chôm chôm: Rambutan
Chuối: Banana
Cóc: Ambarella
Dâu: Strawberry
Dưa hấu: Watermelon
Dưa gang: Indian cream cobra melon
Dưa tây: Granadilla
Dưa vàng: Cantaloupe
Dưa xanh: Honeydew
Dứa (thơm): Pineapple
Đào: Peach
Điều: Malay apple
Đu đủ: Papaya
Hồng: Persimmon
Khế: Star fruit, cabrambola
Khế tàu: Bilimbi
Lạc tiên: Passion fruit
Lê: Pear
Lựu: Pomegranate
Lý : Rose apple
Mãng cầu : Soursop, Corossolier
Măng cụt: Mangosteen
Mận: Water apple, wax jampu
Me : Tamarind
Mít: Jackfruit
Mít tố nữ: Marang
Mơ: Appricot
Na (mãng cầu ta): Sweetsop, custard apple, sugar apple
Nhãn: Longan
Nhàu: Noni
Nho: Grape
Ổi: Guava
Quýt: Tangerine
Sapôchê (hồng xiêm): Sapodilla
Sầu riêng: Durian
Sêri: Indian chery, Acerola chery, Barbados chery
Táo: Apple
Táo tàu: Jujube
Tầm ruộc: Goosebery
Tắc: Kumquat
Thanh long : dragon fruit
Vú sữa : Star apple
Xoài: Mango

HỘI THOẠI HÀNG NGÀY

-She/ He/ It........Does/ Doesn't. (Ví dụ: She doesn't want to go) nếu quá khứ thì các bạn chuyển thành: She "didn't" want to go

-They/ We/ I......Do/ Don't. (Ví dụ: They Don't want to go) nếu quá khử thì các bạn chuyển thành: They "didn't" want to go

-You/ They /We "đi với" Are..... thêm "ING" nhằm diễn tả hành động Ở TƯƠNG LAI. ví dụ: We are going to Mall. Nếu quá khứ thì các bạn sử dụng: We "went" to the Mall.
-She/ He/ It "đi với" Is... thêm "ING" nhằm diễn tả hành động Ở TƯƠNG LA ví dụ: She is going to the Mall. Nếu quá khứ thì các bạn vẫn sử dụng: She "went" to the Mall.

Hội Thoại Áp Dụng:
Tim: Hey Mom (Chào mẹ)
Mom: Hey boy, where did you just go? (Chào cậu bé, con mới đi đâu vậy)
Tim: Yah, I went to the Mall with David. (Vâng, con đi siêu thị với David)
Mom: Oh yah', what did you buy? (Vậy hả, con ĐÃ mua gì)?
Tim: I just bought a hat, where's Daddy? (Con vừa mới mua cái mũ, Bố đâu ạ)?
Mom: He's on his way to the airport to pick up David. (Ông ấy đang trên đường ra sân bay để đón David)
Tim: Really? I didn't know it. What will we have for supper Mom? (Thật ạ? vậy mà con không biết. Chúng ta sẽ ăn gì vào bữa tối hả Mẹ)?
Mom: We are going to have Chicken rice and some Salad (Chúng ta sẽ ăn Cơm Gà và một chút rau Xà Lách)
Tim: Alright, I'm going to take a shower, then I'll help you. (Được rồi, con đi tắm cái đã, sau đó con sẽ giúp mẹ)
Mom: Attaboy, Ok go. (Giỏi lắm, được rồi đi đi)

-Attaboy/girl=Good job=Well done=Tốt lắm, giỏi lắm. Các bạn ĐỪNG dùng Attaman hay Attawoman nha, hỳ. (Chỉ dùng cho bạn bè, hoặc người dưới tuổi). Nếu bạn MUỐN KHEN người trên tuổi các bạn hãy dùng Well done hoặc Good job.
-Pick Up=Đón=Nhặt. Các bạn hãy tùy trường hợp để sử dụng.
P/s: Tim tự đánh máy, tự nghĩ thoại nên các bạn hãy cố gắng HỌC và NHỚ dùm, đừng để Tim thất vọng nha Please! những cái này THỰC SỰ CẦN THIẾT cho các bạn nếu các bạn muốn Có Thể Trò Chuyện. Tim sẽ cố gắng nghĩ ra Mỗi Ngày Một Chủ Đề Khác Nhau cho các bạn tiếp cận từng cái.

VIẾT TẮT


CFO : Chief Financial Officer : Giám đốc tài chính
CIO : Chief Information Officer : Giám đốc CNTT
CMO : Chief Marketing Officer : Giám đốc tiếp thị
HRM : Human Resources Manager : Giám đốc nhân sự
HRD : Human Resources director : Giám đốc nhân sự
Bây giờ ngừoi ta hay dùng :
CPO : Chief People Officer :Giám đốc nhân sự
CCO : Chief Customer Officer: Giám đốc bán hàng



 viết tắt trong tin nhắn tiếng Anh
G9: good night – chúc ngủ ngon
CU29: see you to night – tối nay gặp
10Q: cảm ơn
plz : please – xin làm ơn
IC : I see - tôi hiểu , tôi biết
4u : for u – cho bạn
asl : Tuổi , giới tính , nơi ở ?
lol : Cười
hehe: Cười
u : you
afk — away from keyboard – có việc bên ngoài , ko rảnh rỗi
bbl — be back later – trở lại sau
bbiab — be back in a bit – xin chờ xíu
kkz = okay
ttyl = talk to you later – nói chuyện sau
lv a mess = leave a message – Để lại tin nhé
lata = later [ bye]
n2m = not too much [when asked wassup] – không có gì
newayz = anyways – sao cũng được
gtg = gotta go – phải đi
noe = know – biết
noperz / nah = no – không
yupperz = yes - có
lolz = laugh out loud – cười lớn
teehee = cười [giggle] – cười
lmfao = laughing my f*ckin’ *ss off – cười đểu
nuthin’ = nothing – không có gì
BS = b*ll sh*t – nói láo , xạo
LD = later, dude – gặp sau nhé
OIC = oh I see
PPL = people
sup = what’s up – chuyện gì thế , sao rồi?
wan2tlk = want to talk? – muốn nói chuyện
wkd = weekend – cuối tuần
dts = dont think so – không nghĩ thế , không nghĩ vậy
cul8r = see you later – gặp sau = cu
aas = alive and smiling
gf = girlfriend
ga = go ahead – cứ tiếp tục đi
ilu = i love you
rme = rolling my eyes – ngạc nhiên
ss = so sorry – rất tiếc , rất xin lỗi
spk = speak
stw = search the web
thx = thanks
tc = take care – bảo trọng
hru = how are you – bạn có khoe ko?
ybs = you’ll be sorry – bạn sẽ tiếc
wuf? = where are you from? – từ đâu đến
bc = because – bởi vì
otb = off to bed – đi ngủ
np = no problem – không sao , ko có chuyện gì
nbd = no big deal – không gì đâu . ko sao
tam = tomorrow A.M – sáng ngày mai
b4 = before – trước
wtg = way to go – đường đi
brb — be right back
btw — by the way – tiện thể , nhân tiện
cya — see ya = cu = cu later = cul8t
gmta — great minds think alike
imho — in my humble opinion
j/k — just kidding – nói chơi thôi
irl — in real life – cuộc sống thực , trong đời thực
nick — internet nickname
wb — welcome back – chào mừng đã trở lại
wtf? : what the f**k? – chuyện quái gì nữa đây
fu: **** you – chủi thề
g2g: get to go – biến đi
wth= what the heck – kì quá
cuz = cause – nguyên nhân
dun = don’t - không
omg= oh my god – chúa ơi , trời ơi
omfg= oh my f**ing god = OMFG : chúa ơi , trời ơi (mức độ xã hội đen hơn)
dt = double team !
WTF : Wat the f**k = wtf? : what the f**k? – chuyện quái gì nữa đây
STFU: Shut The F**Up – im đi , trật tự đi
msg – message – tin nhắn
nvm - never mind – không sao
asap = as soon as possible – càng sớm càng tốt
gg = good game – chơi hay lắm
lmao = laugh my ass off
asl: age, = address , *** , location ( từ này là họ hay dùng nhất đấy .. lúc mới chat với bạn họ sẽ hỏi bạn về địa chỉ , giới tính , nơi ta sinh sống)
coz: cause – nguyên nhân
hs:head shot
nsice shot
n = and
da = the


Những từ viết tắt, tiếng lóng này đã chính thức có mặt trong từ điển tiếng Anh Oxford.
OMG (Oh My God - ôi Chúa ơi)
IMHO (In My Honest Opinion - theo quan điểm của tôi)
LOL (Laughing Out Loud - cười to)
tbh (To be honest: Nói chân thành)...

Chủ Nhật, 27 tháng 10, 2013

CÂU HỎI CHO GIAO TIẾP

5 CÂU HỎI ĐỂ BẮT ĐẦU CUỘC HỘI THOẠI

Bạn đã biết cách bắt đầu một cuộc hội thoại với người nước ngoài một cách tự nhiên nhất chưa?

Xin giới thiệu 5 loại câu hỏi phổ biến nhất để bạn có thể bắt đầu bất cứ một cuộc nói chuyện bằng tiếng Anh nào.

Đây là những câu hỏi quen thuộc nhất sẽ giúp các bạn có được những thông tin cơ bản về một ai đó trong lần đầu nói chuyện:

- What is your name? (Tên bạn là gì?)

- Where are you from? (Bạn từ đâu đến?)

- Where do you live? (Bạn sống ở đâu?)

- What do you do? (Bạn làm nghề gì?)

- What do you like doing in your free time?/ What are your hobbies? (Bạn thích làm gì vào thời gian rảnh rỗi/ sở thích của bạn là gì?)

Chúng ta hãy đi vào chi tiết từng loại câu hỏi để có thể kéo dài thêm cuộc hội thoại nhé.

1.“What is your name?” (Tên bạn là gì?)

Khi có được câu trả lời về tên tuổi của người đang nói chuyện với bạn bạn có thể hỏi thêm những chi tiết nhỏ như:

- That’s an interesting name. Is it Chinese / French / Indian, etc.?

(Tên của bạn thật thú vị. Đây là tên theo tiếng Trung/ Pháp/ Ấn Độ….vậy?)

- Who gives you that name? Your father or mother, so on?

(Ai đặt tên cho bạn vậy? Bố bạn hay là mẹ?)

- Does this name have any special meaning?

(Tên này còn có ý nghĩa đặc biệt nào không?)

- It’s a pleasure to meet you. Where are you from?

(Rất vui khi quen biết bạn. Bạn đến từ đâu vây?)

2. “Where are you from?” (Bạn từ đâu đến?)

- Where is XYZ? (XYZ là ở đâu vậy?)

- What is XYZ like? (XYZ trông như thế nào?)

- How long have you lived there? (Bạn sống ở đó bao lâu rồi?)

- Do you like living here? (Bạn có thích sống ở đó không?)

3. “Where do you live?”(Bây giờ bạn sống ở đâu?)

- Do you live in an apartment or house? (Bạn sống ở nàh riêng hay là chung cư?)

- Do you like that neighborhood? (Bạn có thích môi trường xung quanh ở đó không?)

- Do you live with your family? (Bạn có sống với gia đình bạn không?)

- How many people live there? (Có bao nhiêu người sống với bạn?)

4. “What do you do?” (Bạn làm nghề gì?)

- Do you graduate from the school? (Bạn đã ra trường chưa?)

* Nếu câu trả lời là No thì các bạn có thể hỏi tiếp

- What school are you learning? (Bạn đang học ở trường nào?)

- What is your major? (Chuyên ngành chính của bạn là gì?)

* Nếu câu trả lời là Yes bạn có thể tiếp tuc

- Which company do you work for? (Bạn đang làm việc cho công ty nào?)

- How long have you had that job? (Bạn làm công việc đó được bao lâu rồi?)

- Do you like your job? (Bạn có thích công việc đó không?)

- What’s the best / worst thing about your job? (Điều tuyệt vời nhất/ tồi tệ nhất của công việc đó là gì?)

- What do you like best / least about your job? (Điều gì làm bạn thích nhất/ không thích nhất trong công việc của bạn?)

5. Hobbies / Free Time (Sở thích và thời gian rảnh rỗi)

Khi hỏi về sở thích của ai đó những câu hỏi thường thấy là:

- What do you like doing in your free time? (Bạn thích làm gì vào thời gian rảnh rỗi?)

- Can you play tennis / golf / soccer / etc.? (Bạn có thể chơi tennis/ golf/ bóng đá…không?)

+ How long have you played tennis /golf /soccer /etc.? (Bạn chơi tennis/ golf/ bóng đá được bao lâu rồi?)

+ Who do you play tennis /golf /soccer /etc. with? (Bạn chơi tennis/ golf/ bóng đá với ai vậy?)

- What kind of films / food do you enjoy? (Bạn thích loại phim/ loại thức ăn nào?)

+ Where do you often go to watch movies? (Bạn thường đi xem phim ở đâu?)

+ How often do you watch films / eat out? (Bạn có thường xuyên đi xem phim hay đi ăn ngoài không?)

+ Who do you often go with? (Bạn thường đi với ai?)

Với việc ghi nhớ những câu hỏi đơn giản như vậy bạn cũng có thể duy trì cuộc nói chuyện của mình trong một khoản thời gian dài mà bạn không phải lo lắng gì nữa. Hãy luyện tập thật nhiều để có thể làm chủ tiếng Anh nhanh nhất có thể nhé.

CẤU TRÚC ĐẢO ĐỘNG TỪ ĐI VỚI TÍNH TỪ

CẤU TRÚC TIẾNG ANH CĂN BẢN

1. It is + tính từ + ( for smb ) + to do smt
VD: It is difficult for old people to learn English.
( Người có tuổi học tiếng Anh thì khó )

2. To be interested in + N / V_ing ( Thích cái gì / làm cái gì )
VD: We are interested in reading books on history.
( Chúng tôi thích đọc sách về lịch sử )

3. To be bored with ( Chán làm cái gì )
VD: We are bored with doing the same things everyday.
( Chúng tôi chán ngày nào cũng làm những công việc lặp đi lặp lại )

4. It’s the first time smb have ( has ) + PII smt ( Đây là lần đầu tiên ai làm cái gì )
VD: It’s the first time we have visited this place.
( Đây là lần đầu tiên chúng tôi tới thăm nơi này )

5. enough + danh từ ( đủ cái gì ) + ( to do smt )
VD: I don’t have enough time to study.
( Tôi không có đủ thời gian để học )

6. Tính từ + enough (đủ làm sao ) + ( to do smt )
VD: I’m not rich enough to buy a car.
( Tôi không đủ giàu để mua ôtô )

7. too + tính từ + to do smt ( Quá làm sao để làm cái gì )
VD: I’m to young to get married.
( Tôi còn quá trẻ để kết hôn )

8. To want smb to do smt = To want to have smt + PII
( Muốn ai làm gì ) ( Muốn có cái gì được làm )
VD: She wants someone to make her a dress.
( Cô ấy muốn ai đó may cho cô ấy một chiếc váy )
= She wants to have a dress made.
( Cô ấy muốn có một chiếc váy được may )

9. It’s time smb did smt ( Đã đến lúc ai phải làm gì )
VD: It’s time we went home.
( Đã đến lúc tôi phải về nhà )

10. It’s not necessary for smb to do smt = Smb don’t need to do smt
( Ai không cần thiết phải làm gì ) doesn’t have to do smt
VD: It is not necessary for you to do this exercise.
( Bạn không cần phải làm bài tập này )

11. To look forward to V_ing ( Mong chờ, mong đợi làm gì )
VD: We are looking forward to going on holiday.
( Chúng tôi đang mong được đi nghỉ )

12. To provide smb from V_ing ( Cung cấp cho ai cái gì )
VD: Can you provide us with some books in history? ( Bạn có thể cung cấp cho chúng tôi một số sách về lịch sử không? )

13. To prevent smb from V_ing ( Cản trở ai làm gì )
To stop
VD: The rain stopped us from going for a walk.
( Cơn mưa đã ngăn cản chúng tôi đi dạo )

14. To fail to do smt ( Không làm được cái gì / Thất bại trong việc làm cái gì )
VD: We failed to do this exercise.
( Chúng tôi không thể làm bài tập này )

15. To be succeed in V_ing ( Thành công trong việc làm cái gì )
VD: We were succeed in passing the exam.
( Chúng tôi đã thi đỗ )

PHÂN BIỆT CÁCH DÙNG TỪ GẦN NGHĨA

[ LIKE - SUCH AS - ALIKE - THE SAME AS]

Khi muốn diễn đạt sự so sánh giống nhau ,ta có thể dùng:

► Like (trường hợp này nó là 1 giới từ):
- luôn phải theo sau là 1 noun (a princess,a palace...) hoặc 1 pronoun (me,this) hoặc -ing(walking). Bạn cũng có thể dùng mẫu câu: like sth/sb -ing.

Eg:

His eyes is like his father.

What 's that noise?It sounds like a baby crying.

It's like walking on ice.

She looks beautyful-like a princess.

*Like cũng được sử dụng khi đưa ra ví dụ như "such as","like/such as +N ".

Eg:

Junk food such as/like fizzy drinks and hamburgers have invaded the whole word.

► As + N:để nói cái gì là thật hoặc đã là như vậy (nhất là khi nói về nghề nghiệp của ai đó hoặc ta dùng cái đó như thế nào)

Eg:

A few years ago I worked as a bus driver. (...tôi làm nghề lái xe khách)(Tôi thực sự đã là người lái xe khách).

During the war this hotel was used as a hospital.(...được dùng làm bệnh viện)

The news of her dead came as a great shock.(...như 1 cú sốc)(Nó thực sự là 1 cú sốc).

As your lawyer, I wouldn't advise it.(as (giới từ)=với tư cách là.)

► The same as /The same ...as:

The same +noun+as...

Eg:

Ann's salary is the same as mine=Ann gets the same salary as me .(Lương của Ann bằng lương của tôi).

He is the same age as my wife.

► Alike : adj , adv.

- Nếu là một adj. (adjective) [not before noun] tương đương với: "very similar" (rất là giống nhau), hay là "as same as" (Ko có "same like" đâu nhé!)

Eg: My sister and I do not look alike. (chị tui và tui trông ko giống nhau)

Airports are all alike to me (đối với tui, các phi trường đều giống nhau)

- Nếu là một adv. (adverb)

trường hợp 1): tương đương với: "in a very similar way" (phương cách giống nhau)

Eg: They tried to treat all their children alike. (Họ đối xử với các trẻ con giống nhau - hàm nghĩa là ko phân biệt đối xử)

trường hợp 2): used after you have referred to two people or groups,tương đương với: ‘both’ (cả hai) hay là: ‘equally’ (bằng nhau)

Eg: Good management benefits employers and employees alike. (Sự quản lý tốt gây lợi ích cho cả chủ nhân lẫn nhân viên)

Lưu ý: Không dùng Alike đứng trước một danh từ . Ta không nói They wore alike hats. Trong trường hợp này ta dùng "similar" thay thế => They wore similar hats.