Ở Việt Nam quyền tư pháp yếu hơn nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp.
Trong buổi tọa đàm giữa Đoàn
luật sư Hà Nội và Đoàn luật sư thành phố Paris của Pháp, cử tọa đã hết
sức thán phục khi được biết Đoàn luật sư Paris có lịch sử đã 800 năm.
Hãy hình dung, khi mà vua quan quân lính nhà
Trần còn đang rong ruổi thanh gươm yên ngựa để chống giặc, thì ở thủ đô
Paris của nước Pháp, đã có những người mặc áo choàng đứng ở phiên tòa mà
biện hộ cho người bị cáo.
Tức là khi ở Việt Nam sự sống còn
của quốc gia dân tộc còn chưa được đảm bảo chứ đừng nói gì đến quyền của
kẻ tội nhân ở chốn công đường, thì ở nước Pháp đã hình thành nên một
thiết chế mà sự đúng đắn là bệ đỡ đã giúp nó tồn tại cho tới tận ngày
nay.
Vai trò thủ lĩnh
Suốt lịch sử 800 năm hẳn những người luật sư của
Paris đã đối diện với biết bao biến động thời cuộc. Để có thể vượt qua
được mọi sóng gió như thế, hẳn phải có nhiều nguồn sức mạnh trụ đỡ.
Một nguồn sức mạnh cho nghề luật sư đó là nghề
nghiệp này mang tính chính đáng nghĩa hiệp, phù hợp với luân thường đạo
lý con người khi một người đứng ra bảo vệ cho kẻ yếu trước một sức mạnh
áp đảo là cường quyền.
Nhưng chỉ sức mạnh từ luân lý sẽ không đủ để
đoàn luật sư Pari tồn tại được cho tới ngày nay. Mà nó còn được dẫn dắt
bởi những thế hệ người thủ lĩnh đoàn với đầy đủ tư cách đạo đức và sự
uyên bác về trí tuệ.
"... hệ thống chính trị không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền lập pháp và hành pháp."
Những thế hệ người thủ lĩnh chắc chắn phải nhận
được sự tín nhiệm của các thành viên, được sự kính nể của cơ quan tư
pháp đương quyền, có như thế tiếng nói và hành động mới có trọng lượng
và sức thuyết phục.
Ví như các vị vua đời đầu của nhà Trần hoặc vị
anh hùng Trần Hưng Đạo, hẳn là phải có kiến thức hiểu biết và phong độ
uy tín như thế nào mới có thể điều binh khiển tướng chống giặc ngoại xâm
ba lần thành công.
Trong bất kỳ một tổ chức nào, vai trò của người
thủ lĩnh đều rất quan trọng, kinh nghiệm kiến thức của họ sẽ quyết định
con đường mà tổ chức sẽ đi. Nhưng đặc biệt trong giới luật sư, khi thước
đo nghề nghiệp là uy tín thương hiệu thì người đứng đầu càng phải là
người có uy tín và danh dự nhất.
Cũng chỉ đặc biệt ở nghề luật sư, sự thành công
là ở khả năng thuyết phục của lời nói, như thế thì điều tối kỵ là danh
bất chính vì nếu thế thì ngôn sẽ bất thuận. Không có uy tín, không được
tín nhiệm thì nói ai người ta nghe?
Sự áp đặt vô lý
Thấy được bề dày lịch sử của đoàn luật sư Paris như vậy, nhìn lại giới luật sư Việt Nam mà thấy buồn.
Nghề luật sư ở Việt Nam thực sự mới hoạt động từ
vài ba chục năm nay, số lượng luật sư cả nước tính đến nay chỉ khoảng
8.000, con số rất nhỏ so với các hội đoàn khác, ví như hội luật gia số
thành viên là 46.000.
Luât sư Venezuela tập trung phản đối chính phủ
Giới luật sư cũng chưa tạo dựng được hình ảnh
đáng trân trọng trong xã hội. Nguyên do một phần vì hệ thống chính trị
không coi trọng quyền tư pháp, quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với
quyền lập pháp và hành pháp, trong khung cảnh đó giới luật sư chịu chung
số phận hẩm hiu.
Một nguyên nhân khác là sự yếu kém nội tại của
giới luật sư mà chỉ người trong nghề mới hiểu, nhiều người thờ ơ vô
trách nhiệm, không có bản lĩnh chính kiến trước các vấn đề của tổ chức,
không có tinh thần dấn thân cho nghề nghiệp.
Thời điểm năm 2009 khi Liên đoàn Luật sư Việt
Nam được thành lập, chính quyền đã sắp đặt để những người hầu như chưa
bao giờ hành nghề luật sư lại đứng đầu tổ chức luật sư cả nước. Những
người chưa hề có uy tín nghề nghiệp lại đứng trên cả những luật sư với
thâm niêm mấy chục năm hành nghề.
Đứng đầu tổ chức luật sư nguyên là một phó chánh
án tòa án tối cao, một người hầu như chưa bao giờ hành nghề luật sư.
Cấp phó thường trực của ông này là một vị nguyên là vụ trưởng một vụ của
Bộ Tư pháp, một người cũng hầu như chưa hề hành nghề luật sư.
Có thể họ tuy không hành nghề những cũng biết về nghề luật sư, nhưng biết với trải nghiệm là hoàn toàn khác nhau.
Những người chưa từng đổ một giọt mồ hôi lên các
trang hồ sơ tài liệu và chưa từng khóc thầm vì những trái ngang của cơ
chế, họ làm sao thấu hiểu những vấn đề của nghề luật sư?
Những người vì đã đến tuổi nghỉ hưu nên phải
thôi chức ở cơ quan nhà nước, rồi lại được cơ cấu sang đứng đầu một tổ
chức khác, thì lấy đâu ra nhiệt huyết cống hiến của những con người này.
Không sống bằng thu nhập nghề nghiệp, đã có
nguồn thu nhập khác, hy vọng gì họ sẽ trăn trở thao thức để vạch đường
tìm lối cho nghề luật sư phát triển?
Việc áp đặt nhân sự không chính đáng đã phạm
phải vấn đề húy kỵ nhất của nền tư pháp đó là sức mạnh thuộc về công lý
và chính nghĩa chứ không thuộc về cường quyền.
Xuất phát từ đâu mà chính quyền lại áp đặt lối
nhân sự như vậy. Phải chăng đó là thâm ý của chính quyền, áp đặt nhân sự
kém năng lực để kìm hãm giới luật sư trong trì trệ, níu giữ nền tư pháp
nước nhà trong lạc hậu?
Còn nhiều khó khăn
Đứng trước sự áp đặt ngang trái như vậy nhưng
hầu hết giới luật sư đều im lặng, cũng có vài người không đồng tình
nhưng cuối cùng cũng cam chịu chấp nhận.
Chính quyền đã thiếu tôn trọng giới luật sư,
người luật sư cũng vô trách nhiệm với tổ chức của mình, không biết cái
nào là nguyên nhân của cái nào.
Tựu chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật sư còn bảo vệ được cho ai?
Các luật sư Hong Kong tuần hành để bảo vệ quyền lợi của họ, còn Việt Nam thì sao?
Bao nhiêu tổ chức hội đoàn trong xã hội có lúc
họ cần được bảo vệ quyền lợi, nhưng hẳn họ sẽ nghĩ là mấy người đó còn
chẳng làm được gì ra hồn cho tổ chức của họ, sao bảo vệ được cho chúng
ta?
Nhìn vào chính cách hành xử của giới luật sư, xã hội sẽ dành cho mức độ tín nhiệm tương xứng.
Người dân không nghĩ đến luật sư đầu tiên khi
gặp vướng mắc, họ sẽ tự giải quyết lấy bằng cách nhờ vả người quen hay
lo lót cán bộ chính quyền. Chỉ khi sự việc rối tung lên và không tự giải
quyết nổi họ mới tìm đến luật sư.
Họ không móc nối được với cán bộ thì nhờ luật sư làm hộ.
Vì xã hội chưa tín nhiệm nên nghề luật sư ở Việt
Nam không phải là một nghề đem lại thu nhập cao. Trừ một vài thành phố
lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh và trừ ra những luật sư đã thành
công kiếm tiền từ những mảng công việc khác rồi mới chuyển sang làm
luật sư, số đông còn lại đời sống còn nhiều khó khăn.
Ở các tỉnh, khi không vào được công chức nhà
nước hoặc không được làm tại các công ty lớn, nhiều người mới đành hài
lòng với nghề luật sư.
Khi gặp gỡ trao đổi với luật sư các tỉnh, sẽ dễ
dàng nhận thấy những nét ưu tư trăn trở trên gương mặt, qua những câu
chuyện sẽ thấy tâm trạng bải hoải chán chường bế tắc.
Nhưng tất cả lại chỉ trông trờ vào sự thay đổi
từ nơi khác, rất hiếm người có bản lĩnh táo bạo thấy được sự thay đổi
cần ở ngay nơi mình.
Làm thế nào?
Giới luật sư ở Việt Nam chưa cho thấy là một
nghề nghiệp của những con người có kiến thức thuộc tầng lớp trí thức
nhận được sự tôn kính của xã hội.
Lâu nay giới luật sư được vinh danh một phần là
nhờ hào quang quá khứ của giới luật sư thủa xưa vốn được nhân dân gọi là
“thầy cãi”. Một phần là vay mượn giá trị của người luật sư phương Tây
qua những bộ phim hình sự truyền hình.
Giới luật sư Việt Nam cần phải làm rất nhiều việc để xứng với kỳ vọng của xã hội về nghề luật sư.
"Tựu
chung lại, giới luật sư đã thất bại trong việc bảo vệ quyền lợi chính
đáng của mình. Khi không bảo vệ được quyền lợi của chính mình thì luật
sư còn bảo vệ được cho ai?"
Lâu nay các luật sư mới chỉ có thói quen vận
dụng các quy định pháp luật hiện tại, không mấy ai đặt câu hỏi tại sao
luật lại quy định như thế này mà không phải thế khác, để tạo cơ chế
thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp, bảo vệ các quyền tự do dân
chủ của công dân.
Đứng trước quy định bất cập của pháp luật, khi
tháo gỡ cho khách hàng nhiều luật sư chỉ biết luồn lọt sao cho được việc
mà không mấy ai quan tâm đấu tranh để loại bỏ quy định bất cập ấy.
Ngay với những vấn đề liên quan đến quyền lợi
của giới mình, như có những luật chưa tạo điều kiện để giới luật sư hành
nghề, nhưng giới luật sư cũng không có tiếng nói phản ánh.
Gần gũi hơn nữa là công tác nhân sự của tổ chức
luật sư, nhiều luật sư cũng chẳng thèm quan tâm, nhiều luật sư cho rằng
họ vẫn hành nghề tốt mà chẳng cần biết đến ai là người đứng đầu tổ chức
của họ.
Đó thực sự là lối suy nghĩ làm việc của đông đảo luật sư Việt Nam, không quan tâm đến tổ chức.
Và đó là cách làm nghề không bền vững và không có tương lai.
Bài viết phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, giám đốc Công ty luật Công chính ở Hà Nội.
Tòa án phải mang lại công lý cho mọi người.
Câu nói này bộc lộ đằng sau đó cả một vấn đề to lớn của hệ thống tư pháp.
Có một điều ít người biết đó là lâu nay tòa án chưa bao giờ đem ‘công lý’ đến cho mọi người.
Đây chỉ là lối nói ẩn dụ muốn gây sự chú ý, và
vấn đề cũng đáng phải chú ý thật vì: Từ ‘công lý’ hoàn toàn vắng bóng
trong nền tư pháp Việt Nam.
Có thật vậy không?
Tìm hiểu qua gần trăm bản án và quyết định của tòa án thì thấy không có một từ ‘công lý’ nào.
Tìm hiểu một số bản cáo trạng của viện kiểm sát và bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra thì cũng không thấy từ ‘công lý’.
Xét một số văn bản luật quan trọng quy định việc
xét xử thì thấy: Bộ luật tố tụng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự, luật
tố tụng hành chính đều không có từ công lý.
Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự hay luật tổ chức tòa án cũng không có từ công lý.
"Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý"
Do không có điều kiện để khảo sát hết, nhưng
hình như từ ‘công lý’ không được sử dụng trong các văn bản tư pháp, từ
kết luận điều tra, cáo trạng đến bản án đều không dùng từ công lý.
Thực tế trong 9 năm hành nghề luật sư, đã làm
việc tại hàng trăm phiên tòa và không biết bao nhiêu buổi làm việc với
điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tôi đều không thấy họ nhắc đến
hai từ ‘công lý’.
Nhưng vì sao từ công lý lại không được nhắc đến
trong các văn bản tố tụng và hiếm khi được nói ra từ miệng các cán bộ tư
pháp thì hình như mọi người đều chưa nhận ra lý do.
Ngoài xã hội thì sao?

Tòa án thuộc hệ thống tư pháp 'không được quyền' mạnh hơn bên hành pháp
Xem xét báo chí thì thấy cũng ít khi sử dụng từ
công lý hoặc có bài nhắc đến thì hóa ra là những sự vụ chẳng lấy gì làm
lớn lao hay nghiêm túc.
Những bài báo viết về các vụ án đa phần chỉ viết
một chiều không công tâm khách quan, lời lẽ thì nặng phần đả kích nên
khi từ công lý được nhắc đến thì lại thấy kệch cỡm sáo rỗng.
Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý.
Những cơ quan ngôn luận lớn như Đài truyền hình,
đài tiếng nói đôi khi cũng lớn tiếng kêu gọi thực thi công lý nhưng là
trong các vụ kiện quốc tế khi Việt Nam đòi bồi thường về chất độc màu da
cam hay các vụ kiện về cá basa.
Người dân khi có việc liên quan tới tòa án thì
cũng chẳng bao giờ thấy nói đến công lý. Trong đời sống thường nhật nếu
có ai nhắc đến công lý thì luôn kèm theo sự cảm thán.
Chẳng thế mà trong đời sống đã có một câu nói tới nay đã thành quen thuộc đó là: Công lý chỉ là một diễn viên hài.
Câu nói đã phản ánh sự thất vọng đối với nền tư
pháp vắng bóng công lý song cũng kết hợp với yếu tố hài để xoa dịp nỗi
oán thán vì trong làng nghệ sĩ hài Việt Nam có một người tên là Công lý.
Vậy phải chăng nền tư pháp Việt Nam không có khả năng đem lại công lý?
Điều đó không hẳn đúng, nhưng rõ ràng có một sự
rất bất bình thường khi từ công lý bị chối bỏ không được sử dụng trong
nền tư pháp.
Điều này có liên quan thế nào với việc hệ thống
tòa án lâu nay hoạt động yếu kém biểu hiện qua các tệ trạng như xử án
oan sai, tình trạng chạy án, nhận hối lộ, nhũng nhiễu đương sự bằng cách
kéo dài thời gian giải quyết án.v.v.
Nữ thần công lý
Chúng ta biết rằng hệ thống pháp luật Châu Âu
với một lịch sử lâu đời đã tạo nên biết bao thành tựu cho nhân loại,
trong đó nhiều khái niệm, hình tượng và chế định pháp lý giờ đã trở
thành phổ quát cho toàn thế giới.
Nhiều khái niệm và chế định pháp lý của pháp luật Việt Nam là sản phẩm vay mượn từ hệ thống pháp luật Châu Âu.

Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử nhưng tòa án ở Việt Nam thì không
Nhưng có những hình tượng pháp lý mặc dù đã là
phổ quát nhưng lại gặp khó khăn khi du nhập vào Việt Nam, ví như hình
tượng Nữ thần công lý.
Nữ thần công lý là hình tượng một người phụ nữ
có một dải băng che mắt mang ý nghĩa tránh sự chi phối ảnh hưởng từ bên
ngoài để giữ sự công tâm khách quan, một tay cầm cán cân để phân định
đúng sai phải trái, tay kia cầm thanh gươm biểu tượng của quyền uy tòa
án.
Nữ thần công lý có nguồn gốc từ thời văn minh La
Mã, là hình tượng tín ngưỡng mang yếu tố tâm linh được tôn vinh và hy
vọng đem đến công lý cho con người.
Niềm tin công lý theo đó xuất phát từ niềm tin
tôn giáo, là thuộc tính tâm hồn được khơi nguồn từ một thực thể mang
tính thần thánh, trong khi đó ở Việt Nam chính thể hiện tại là vô thần.
Đây là chướng ngại lý giải vì sao hình tượng nữ
thần công lý không được phổ biến ở Việt Nam và từ ‘công lý’ không được
nhắc đến trong nền tư pháp.
Nhân danh gì?
Hệ thống tòa án được thiết kế trên cơ sở học hỏi
hệ thống tòa án Phương Tây, nhưng một số khái niệm hay hình tượng do
không phù hợp nên khó vận dụng vào Việt Nam như hình tượng nữ thần công
lý.
Điều này dẫn đến là khi bị khuyết thiếu những
thành tố để cấu thành nên một hệ thống hoàn chỉnh thì người ta đã xoay
sở để có được thành tố phù hợp đắp vào chỗ còn thiếu.
Ví như vấn đề tòa án xét xử nhân danh cái gì?
Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử
nhưng tòa án ở Việt Nam không nhân danh công lý, thay vào đó tòa án nhân
danh nhà nước hay nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nhưng sự bù đắp kiểu này lại gây ra những bất cập mà nếu mổ xẻ ra sẽ cho thấy những điều vô lý.
Nếu tòa án nhân danh nước cộng hòa thì không ổn,
vì đất nước mặc dù cao quý nhưng không có tinh thần, không có tâm hồn
nên đất nước không được cho là thực thể có khả năng đoán định đúng sai
đem lại công lý.
Nếu nhân danh nhà nước thì cũng không ổn, vì nhà
nước chỉ là sản phẩm công cụ của con người, có thể trở thành một bên
đương sự đối trọng với người dân.
Trong hệ thống pháp luật đã có một luật là Luật
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, vậy khi Nhà nước có sai phạm và trở
thành một bên đương sự thì làm sao Nhà nước vừa là người phán quyết đem
lại công lý vừa là đương sự được?
Hệ thống tư pháp là sản phẩm vay mượn từ bên
ngoài nhưng các chế định pháp lý đã bị uốn chỉnh sao cho phù hợp với
thực tế trong nước, nhưng vì nhiều nguyên do khác nhau nó trở thành một
hệ thống không hoàn chỉnh.

"Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm"
Bài toán khó
Nhà nước đã nhận ra những điều bất cập của hệ
thống tư pháp nên đã có chủ trương sửa đổi cải cách tư pháp và Chủ tịch
nước là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương.
Chủ tịch nước yêu cầu tòa án phải mang lại công lý cho mọi người, đây có thể là một ẩn ý sâu xa chứa đựng một chủ trương lớn.
Theo đó trách nhiệm nặng nề được giao cho tòa án
làm sao hóa giải các mâu thuẫn để đưa hình tượng nữ thần công lý vào hệ
thống tư pháp vốn không theo tôn giáo nào.
Tức là nội hóa một triết thuyết pháp lý quan trọng của thế giới.
Nhưng tòa án có thể biến khó thành dễ bằng việc sử dụng chữ ‘công lý’ trong các bản án để đem ‘công lý’ đến cho mọi người.
Nếu muốn tòa án còn làm được gì hơn thế, đem đến
công lý thực chất cho mọi người thì phải nâng cao vị thế chính trị và
mở rộng quyền hạn pháp lý cho tòa án.
Nhưng vấn đề là một khi tòa án lớn quyền thì lại là mối đe dọa đối với các chủ thể khác.
Lâu nay quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền hành pháp.
Chính phủ đã thụ hưởng sự an toàn từ một nền tư pháp yếu.
Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm.
Chủ trương cải cách tư pháp đã có nhưng việc này
khó thể thành công nếu vẫn chối bỏ ‘công lý’ và quyền tư pháp vẫn bị
kìm giữ trong tình trạng yếu kém như lâu nay.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.